Thái Nguyên: Hành trình di sản - sáng tạo để lan tỏa
Nam Định: Chủ động kiến tạo thêm không gian phát triển kinh tế - xã hội liên vùng
(Chinhphu.vn) - Trước yêu cầu phải phát triển kinh tế nhanh, mạnh mẽ, tỉnh Nam Định đã chủ động quy hoạch hình thành các vùng kinh tế - xã hội nhằm tạo sức mạnh liên kết để giải quyết triệt để các vấn đề mà từng địa phương đơn lẻ, theo địa giới hành chính riêng của mình không giải quyết được. Đồng thời, để các huyện, thành phố cùng nhập cuộc, chung sức thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng chung toàn tỉnh Nam Định.
Huyện Giao Thủy thu hút được Công ty TNHH Quốc tế KAM FUNG Việt Nam đầu tư nhà máy sản xuất đồ chơi trẻ em xuất khẩu tại thị trấn Quất Lâm, góp phần thúc đẩy phát triển vùng kinh tế ven biển của tỉnh.
Từ đầu nhiệm kỳ 2020-2025 đến nay, tỉnh Nam Định đã hoàn thành xây dựng và triển khai đầu tư hàng loạt các tuyến đường giao thông chiến lược không chỉ đảm bảo kết nối liên thông giữa các huyện, thành phố trong tỉnh mà còn kết nối đến các vùng kinh tế trọng điểm của khu vực, có khả năng khơi thông nguồn lực từ các thành phần kinh tế.
Cụ thể là, Nam Định đã hoàn thành, đưa vào sử dụng các dự án: Đường trục phát triển nối vùng kinh tế biển của tỉnh với đường cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình (giai đoạn I), các tỉnh lộ 487B, 488C, cụm công trình kênh nối Đáy - Ninh Cơ.
Đang tiếp tục đôn đốc đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án: Tuyến đường bộ ven biển đoạn qua tỉnh Nam Định; các tỉnh lộ 488B, 485B; giai đoạn II dự án xây dựng tuyến đường trục phát triển nối vùng kinh tế biển tỉnh với đường cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình; tuyến đường bộ mới Nam Định - Lạc Quần - Đường bộ ven biển (tỉnh lộ 484); đường trục phía nam thành phố Nam Định (đoạn từ đường Vũ Hữu Lợi đến Quốc lộ 21B); cầu lớn thứ 4 vượt sông Đào, nối nội thành Nam Định với vùng kinh tế động lực ven biển...
Tỉnh Nam Định cũng chú trọng hoàn thành lập các Quy hoạch vùng liên huyện Hải Hậu - Giao Thuỷ, vùng liên huyện Nghĩa Hưng - Ý Yên và vùng liên huyện Nam Trực - Trực Ninh đến năm 2040, tầm nhìn đến năm 2050.
Tập trung dồn lực lập Quy hoạch tỉnh Nam Định thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, trong đó bao quát đồng bộ, thống nhất các quy hoạch phát triển liên huyện, quy hoạch vùng và quy hoạch quốc gia làm căn cứ pháp lý để các huyện, thành phố và tỉnh triển khai thu hút đầu tư các dự án phát triển kinh tế liên vùng.
Toàn tỉnh Nam Định đã hình thành 5 hành lang quan trọng phát triển đa ngành, đa lĩnh vực (kinh tế - kỹ thuật - đô thị và nông thôn) bao gồm: Hành lang Quốc lộ 10 (thành phố Nam Định - Cao Bồ), Hành lang cao tốc Bắc Nam - Cao Bồ - Rạng Đông, Hành lang kinh tế ven biển (Nghĩa Hưng - Hải Hậu - Giao Thủy), Hành lang Quốc lộ 21 (thành phố Nam Định - Xuân Trường), Hành lang cao tốc Ninh Bình - Thái Bình - Quảng Ninh. Trong đó, Hành lang Quốc lộ 10 (thành phố Nam Định - Cao Bồ) đi qua địa bàn các huyện và thị trấn: huyện Vũ Thư (Thái Bình) - thành phố Nam Định - thị trấn Gôi (Vụ Bản) - Ý Yên - Ninh Bình, tổng chiều dài khoảng hơn 30km.
Đây là hành lang động lực chủ đạo của tỉnh do là tuyến huyết mạch giao thông, có vai trò kết nối Nam Định với tỉnh Thái Bình, Ninh Bình, có dân cư đông đúc, tổng vốn cơ sở vật chất lớn, đóng góp lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Cũng tại đây, tỉnh Nam Định định hướng huy động các nguồn lực, khai thác hợp lý và có hiệu quả tài nguyên đất; đẩy mạnh phát triển các vùng nông nghiệp tập trung, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; phát triển công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến; phát triển mạnh ngành dịch vụ - du lịch, các điểm du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh theo hướng đối ngoại với quốc gia và quốc tế.
Hành lang Cao tốc Bắc Nam nối dài (Hà Nội - Cao Bồ - Rạng Đông) đi qua các huyện và thị trấn từ huyện Thanh Liêm (Hà Nam) - Cao Bồ (Ý Yên) thị trấn Liễu Đề - thị trấn Quỹ Nhất - đô thị Rạng Đông, tổng chiều dài khoảng hơn 70km. Đây cũng là trục trung tâm, giúp kết nối thuận lợi phía Bắc (tỉnh Hà Nam và Thủ đô Hà Nội).
Tuyến hành lang này đi qua các khu vực có nhiều thị trấn đang phát triển và các khu điểm kinh tế lớn có vai trò quan trọng kết nối 3 cực tăng trưởng (Cao Bồ - Liễu Đề - Rạng Đông) nên được xác định là hành lang phát triển động lực chủ đạo đến 2030 và 2050.
Trên tuyến này, Nam Định dự tính sẽ tập trung nguồn lực phát triển nông nghiệp, công nghiệp, thương mại và dịch vụ; đặc biệt phát triển mạnh công nghiệp chế biến chế tạo, luyện thép, khai khoáng, dịch vụ du lịch sinh thái cảnh quan và môi trường.
Hành lang kinh tế ven biển (Nghĩa Hưng - Hải Hậu - Giao Thủy) đi qua các huyện và thị trấn từ Tiền Hải (Thái Bình) - Đại Đồng - thị trấn Quất Lâm - thị trấn Cồn - thị trấn Thịnh Long - thị trấn Rạng Đông - thị trấn Bình Minh (Ninh Bình), tổng chiều dài khoảng 60km. Hành lang này đi qua các khu vực có nhiều thị trấn đang phát triển và các khu điểm kinh tế lớn, trọng tâm của vùng này là đô thị Rạng Đông - Thịnh Long và các đô thị Quất Lâm, Đại Đồng.
"Đất học" định hướng tập trung nguồn lực phát triển nông nghiệp, công nghiệp, thương mại và dịch vụ; đặc biệt phát triển mạnh công nghiệp chế biến chế tạo, luyện thép, khai khoáng, dịch vụ du lịch sinh thái biển, nuôi trồng thủy hải sản và dịch vụ cảng và logistics như KCN Rạng Đông, Khu kinh tế biển Ninh Cơ, Khu du lịch biển Thịnh Long, Quất Lâm…; phát triển khu vực hành lang kinh tế ven biển sẽ tạo điều kiện phát triển kinh tế, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo ra quan hệ hỗ trợ, kích thích phát triển giữa các huyện trong tỉnh.
Hành lang Quốc lộ 21 (thành phố Nam Định - Xuân Trường - Giao Thủy) đi qua địa bàn các huyện và thị trấn như: Lý Nhân (Hà Nam) - thành phố Nam Định - thị trấn Cổ Lễ - thị trấn Cát Thành - thị trấn Xuân Trường - thị trấn Quất Lâm, tổng chiều dài khoảng 48km.
Đây là hành lang phát triển động lực thứ cấp trong giai đoạn đến năm 2030 và trở thành chủ đạo trong giai đoạn đến năm 2050 do có dân cư đông đúc, tổng vốn cơ sở vật chất lớn với các thị trấn là đô thị trung tâm các huyện nằm dọc theo Quốc lộ 21 với khoảng cách khá gần nhau (<10km).
Trong giai đoạn quy hoạch, cần huy động các nguồn lực, khai thác hợp lý và có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên của khu vực, kết hợp bảo vệ môi trường sinh thái và tạo nguyên liệu cho phát triển công nghiệp. Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng nhằm thu hút đầu tư vào phát triển công nghiệp, du lịch; đẩy mạnh giải quyết việc làm, từng bước nâng cao dân trí, chất lượng đời sống dân cư hoàn thành mục tiêu xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu.
Hành lang cao tốc Ninh Bình - Thái Bình - Quảng Ninh: Đi qua các huyện và thị trấn như: Kiến Xương (Thái Bình) - thị trấn Cổ Lễ - thị trấn Liễu Đề - Kim Sơn (Ninh Bình) tổng chiều dài khoảng 50km, là trục trung tâm, giúp kết nối thuận lợi với các tỉnh, thành phố trong khu vực duyên hải Thái Bình, Ninh Bình, Hải Phòng, Quảng Ninh.
Hành lang này đi qua các thị trấn đang phát triển của tỉnh như thị trấn Cổ Lễ, thị trấn Liễu Đề, cũng là hành lang có vị trí quan trọng, có ảnh hưởng và đóng góp lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, nên được xác định là hành lang phát triển động lực thứ cấp ở giai đoạn đến năm 2030 và chủ đạo đến năm 2050. Đây là hành lang có vị trí quan trọng, khu vực có quỹ đất rộng rãi, có ảnh hưởng và đóng góp lớn về kinh tế, du lịch, dịch vụ và sản xuất công nghiệp của tỉnh.
Tại đây tỉnh định hướng huy động các nguồn lực, khai thác hợp lý và có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên của khu vực, kết hợp bảo vệ môi trường sinh thái và tạo nguyên liệu cho phát triển công nghiệp; đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng nhằm thu hút đầu tư vào phát triển công nghiệp, du lịch; đẩy mạnh giải quyết việc làm, từng bước nâng cao dân trí, chất lượng đời sống dân cư hoàn thành mục tiêu xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu.
Để bảo đảm sự thống nhất giữa các huyện, thành phố trên phạm vi toàn tỉnh Nam Định, từ đó đồng thuận cùng thu hút, đầu tư các dự án, điều phối phát triển các lĩnh vực kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại và các chương trình thúc đẩy phát triển tổng thể kinh tế - xã hội, tránh chồng chéo, lãng phí nguồn lực, tỉnh Nam Định cũng chủ động xác định phương thức phối hợp tổ chức phát triển không gian liên vùng.
Theo đó, UBND tỉnh Nam Định tổ chức sắp xếp không gian liên huyện, bố trí các công trình, dự án, hạ tầng kỹ thuật, khu dân cư, đảm bảo kết nối các vùng huyện thông suốt, phù hợp với định hướng quy hoạch chung của tỉnh và hướng phát triển trọng tâm của vùng huyện; nghiên cứu ban hành quy chế phối hợp quản lý các dự án thực hiện trong phạm vi không gian liên huyện, đảm bảo quản lý hiệu quả giữa các huyện.
Việc chủ động kiến tạo, mở thêm không gian phát triển liên vùng sẽ tạo thêm động lực mới để các địa phương phát triển kinh tế - xã hội, góp phần giúp tỉnh Nam Định thực hiện thắng lợi mục tiêu thời kỳ quy hoạch 2021-2030, tầm nhìn đến 2050 đưa đất học Thành Nam trở thành một trong những tỉnh khá của cả nước, là cực phát triển quan trọng của vùng Nam đồng bằng sông Hồng và cả nước; kết nối thuận lợi với các trung tâm kinh tế - xã hội lớn của vùng, cả nước, các nước láng giềng và ASEAN./.
Am hiểu sâu sắc văn hóa dân tộc, đặc biệt là vùng Việt Bắc, NSND Vương Duy Biên – Chủ tịch Hiệp hội Phát triển Công nghiệp Văn hóa Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch – mang đến những góc nhìn sâu lắng và thuyết phục về cách Thái Nguyên có thể gìn giữ, làm sống dậy và lan tỏa giá trị di sản trong thời đại số. Trong cuộc trò chuyện giữa không gian trà Tân Cương thơm ngát, ông khẳng định: Văn hóa chính là linh hồn tạo nên bản sắc du lịch bền vững cho vùng đất này...
Phóng viên: Thưa ông, trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số hiện nay, ông đánh giá như thế nào về vai trò của di sản văn hóa trong việc quảng bá bản sắc dân tộc và góp phần xây dựng sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam qua các nền tảng công nghệ sáng tạo?
NSND Vương Duy Biên:
Di sản văn hóa, bao gồm cả di sản vật thể và phi vật thể, là linh hồn và cội nguồn bản sắc dân tộc Việt Nam. Trong thời đại toàn cầu hóa và chuyển đổi số, di sản không chỉ cần được bảo tồn mà còn phải được kích hoạt qua sáng tạo và công nghệ để tạo ra sức mạnh mềm cho quốc gia.
Văn hóa không còn là yếu tố phụ trợ mà là lực lượng tiên phong trong việc định vị hình ảnh đất nước. Di sản Việt Nam, với chiều sâu lịch sử hàng nghìn năm, là nền tảng vững chắc để xây dựng sức mạnh mềm bền vững. Các yếu tố như điệu hát xoan, tích chèo cổ hay ngôi đình làng khi kết hợp với nghệ thuật đương đại và công nghệ sẽ tạo ra trải nghiệm sống động, dễ tiếp cận và lan tỏa toàn cầu.
Công nghệ sáng tạo không chỉ là công cụ, mà còn giúp "giải mã" di sản, biến giá trị truyền thống thành sản phẩm văn hóa tương tác, hấp dẫn giới trẻ và công chúng quốc tế. Các bảo tàng ảo, sân khấu kỹ thuật số hay ứng dụng văn hóa thông minh là ví dụ điển hình về việc di sản có thể sống dậy trong không gian số mà không mất đi bản sắc.
Sức mạnh mềm không chỉ phụ thuộc vào số lượng di sản chúng ta sở hữu, mà là cách chúng ta kể câu chuyện ra thế giới. Bản sắc dân tộc cần được lan tỏa. Khi di sản trở thành nguồn cảm hứng cho nghệ thuật, thiết kế, điện ảnh, thời trang hay kiến trúc, văn hóa Việt Nam sẽ "thăng hoa" trong dòng chảy toàn cầu.
Tương lai di sản Việt Nam không nằm ở việc bảo tồn nguyên trạng, mà ở khả năng đối thoại giữa truyền thống và hiện đại, giữa văn hóa sâu sắc và công nghệ tiên tiến. Sự đối thoại này sẽ giúp văn hóa Việt Nam lan tỏa mạnh mẽ và hội nhập.
Phóng viên: Thưa ông, với vai trò là người gắn bó sâu sắc với văn hóa dân tộc, ông nhìn nhận như thế nào về vai trò của di sản văn hóa trong phát triển du lịch Thái Nguyên hiện nay?
NSND Vương Duy Biên:
Tôi vẫn thường nói rằng, nếu không có văn hóa thì du lịch chỉ còn là những bước chân đi mà chẳng mang theo cảm xúc. Với Thái Nguyên mới – một không gian địa lý và văn hóa được mở rộng từ Thái Nguyên và Bắc Kạn – thì văn hóa không chỉ là yếu tố nền tảng, mà còn là linh hồn làm nên bản sắc du lịch độc đáo, không thể sao chép.
Từ ATK Định Hóa đến ATK Chợ Đồn, mỗi tấc đất đều in dấu chân Bác Hồ và các bậc tiền nhân trong hành trình giữ nước. Đây không chỉ là di sản lịch sử vô giá, mà còn là trục xương sống để phát triển tuyến du lịch "về nguồn", kết nối quá khứ hào hùng với trải nghiệm thực tại, giúp du khách thấu hiểu lịch sử bằng cảm xúc sống động.
Đi xa hơn về phía thiên nhiên, hồ Ba Bể hiện lên như một báu vật xanh, vừa nên thơ vừa linh thiêng, vừa là danh thắng quốc gia đặc biệt, vừa là không gian văn hóa đầy huyền thoại. Đây là nơi mà thiên nhiên và văn hóa bản địa cùng hòa quyện, tạo nên loại hình du lịch sinh thái – tâm linh – cộng đồng có chiều sâu, đầy sức hút.
Tuy nhiên, nếu nhắc đến Thái Nguyên mà không nói đến văn hóa trà thì thật thiếu sót. Trà Tân Cương không chỉ là sản phẩm nông nghiệp nổi tiếng, mà là một giá trị văn hóa đã thấm sâu vào nếp sống, nếp nghĩ của người dân. Uống trà Thái Nguyên là thưởng thức cả khí hậu, thổ nhưỡng và bàn tay khéo léo của người làm trà; nhưng cao hơn thế, là uống cả hồn cốt vùng đất – nơi mà mỗi chén trà được rót ra như một lời mời trân trọng vào không gian văn hóa Việt. Trà Thái Nguyên chính là chất keo nối kết giữa du khách và bản địa, giữa truyền thống và hiện đại.
Di sản văn hóa phi vật thể ở Thái Nguyên mới thực sự là kho báu sống động. Là làn điệu Then đã được UNESCO vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại – ngân vang trong nghi lễ của người Tày. Là điệu Páo dung của người Dao, là tiếng Sli của người Nùng mềm như gió lộng, là tiếng khèn Mông gọi mùa yêu thương. Và không thể không nhắc đến điệu múa Tắc Xình – với những vòng xoay đầy sinh khí trong lễ hội bản làng – như sự giao hòa của đất trời, của người và thiên nhiên.
Các nghi lễ dân gian như Lễ cấp sắc của người Dao, Lễ Kỳ yên, Lễ hội Lồng tồng, Lễ hội Nàng Hai của người Tày, Lễ hội Mù là của người Mông… không chỉ là hoạt động tâm linh mà còn là "màn diễn văn hóa" nguyên bản, giàu giá trị biểu đạt – có thể trở thành điểm nhấn cho du lịch trải nghiệm và du lịch theo mùa vụ.
Ngay cả trong đời sống thường ngày, du khách cũng có thể cảm nhận chiều sâu văn hóa: Trong nếp nhà sàn ẩn mình dưới tán rừng già, trong nét thêu thổ cẩm tinh tế trên váy áo phụ nữ, trong cách người dân bản mời nhau bát rượu đầu xuân hay buổi sáng cùng nhau hái chè trên đồi.
Tôi tin rằng, nếu Thái Nguyên mới biết tận dụng chiều sâu di sản để tạo dựng sản phẩm du lịch có bản sắc – kết hợp với ứng dụng công nghệ hiện đại như số hóa di tích, bảo tàng mở, tour thực tế ảo hay biểu diễn nghệ thuật gắn với trải nghiệm – thì hoàn toàn có thể trở thành một trung tâm du lịch di sản mang tầm quốc gia, thậm chí quốc tế.
Phóng viên: Vậy theo ông, làm thế nào để vừa khai thác được giá trị văn hóa – lịch sử để phát triển du lịch, mà vẫn đảm bảo yếu tố bảo tồn bền vững?
NSND Vương Duy Biên:
Tôi cho rằng, vấn đề mấu chốt là cách chúng ta nhìn nhận văn hóa. Nếu xem văn hóa chỉ là công cụ để thu hút khách, thì sớm muộn ta cũng sẽ làm tổn thương nó. Nhưng nếu ta xem văn hóa là cội nguồn để phát triển bền vững, là chính mình – thì cách tiếp cận sẽ hoàn toàn khác.
Muốn khai thác mà không làm hỏng, thì phải để người dân – những chủ thể văn hóa – được sống trong chính di sản của mình, bằng chính công việc của họ. Đó là những nghệ nhân hát Then, những người phụ nữ Sán Chay biết múa Tắc Xình, những bà con làm chè Tân Cương bằng kinh nghiệm cha truyền con nối... Khi họ được hỗ trợ đúng cách, được tham gia vào chuỗi giá trị du lịch, được tôn vinh bằng sự trân trọng thực sự – thì bảo tồn không còn là khẩu hiệu mà là hành động. Di sản không thể chỉ bảo tồn trong bảo tàng. Nó phải sống cùng cộng đồng, và cộng đồng phải được sống cùng di sản một cách xứng đáng.
Có những giá trị nếu không được sống cùng, thì sẽ biến mất. Hát Then chẳng thể giữ được chỉ bằng việc đưa vào sách giáo khoa. Nó cần một không gian sống – nơi nghệ nhân cất tiếng giữa đêm hội, nơi người già truyền dạy cho cháu mình bằng giọng mộc mạc như hơi thở.
Vấn đề hiện nay là chúng ta đang phát triển nhanh, đôi khi quá nhanh, trong khi di sản thì cần thời gian, cần sự nâng niu. Khai thác di sản để làm du lịch là một lựa chọn đúng, nhưng nếu không cẩn trọng, ta sẽ làm phai mờ chính cái hồn cốt mà du khách tìm đến.
Chúng ta phải tìm cách để di sản sống được trong đời sống, để người dân kiếm sống từ chính bản sắc của mình, chứ không phải diễn lại bản sắc cho người khác xem. Khi cộng đồng là trung tâm của di sản, khi họ được làm chủ trong hành trình phát triển, thì di sản mới có cơ hội bền vững.
Phóng viên: Trong dòng chảy phát triển du lịch hiện nay, việc gắn kết giữa cộng đồng địa phương và hoạt động du lịch văn hóa đang được thực hiện như thế nào, thưa ông?
NSND Vương Duy Biên: Đây là một bước đi cần thiết, nhưng đúng là không dễ dàng. Cộng đồng chính là linh hồn của văn hóa bản địa. Nếu thiếu họ, du lịch văn hóa chỉ là một lớp vỏ. Nhưng để cộng đồng thực sự tham gia, ta cần đầu tư thời gian, kiến thức, và trên hết là lòng tin.
Nhiều người dân chưa hình dung được rằng chính những điều bình dị họ đang sống mỗi ngày – từ cách gói bánh chưng đen, cách pha trà buổi sớm, hay lời ru bằng tiếng Tày – đều có thể trở thành “tài sản” văn hóa có giá trị lớn nếu được phát huy đúng cách.
Muốn vậy, chính quyền, doanh nghiệp và các nhà văn hóa phải cùng đồng hành với người dân. Không thể áp đặt mô hình du lịch từ bên ngoài mà cần giúp họ tự kể câu chuyện của mình, bằng giọng nói, bằng tập tục văn hóa, bằng lối sống nguyên bản. Khi ấy, cộng đồng không còn là “người phục vụ du lịch” mà là chủ thể đích thực – người giữ hồn cho sản phẩm văn hóa sống.
Rào cản lớn nhất không phải là điều kiện vật chất, mà là khoảng cách tư duy. Có những nghệ nhân hát Then suốt đời mà chưa từng bước lên một sân khấu lớn. Có những người biết cách nhuộm chàm, thêu hoa văn cổ, nhưng không nghĩ rằng đó là một “tài sản”. Cũng có người dân sẵn sàng làm homestay nhưng lại thiếu cách kể chuyện – vì không ai chỉ cho họ biết rằng chính căn nhà sàn, chính bữa cơm thường ngày là một phần của văn hóa.
Muốn gỡ rào cản ấy, cần kiên nhẫn. Cần đào tạo cộng đồng không phải theo kiểu “bắt kịp du lịch” mà là giúp họ tự kể lại chính mình, bằng ngôn ngữ, bằng âm nhạc, bằng cách sống hằng ngày.
Phóng viên: Theo ông, làm sao để văn hóa thực sự trở thành trụ cột trong chiến lược phát triển du lịch bền vững của Thái Nguyên?
NSND Vương Duy Biên: Muốn văn hóa trở thành trụ cột, trước hết cần thay đổi nhận thức từ cấp lãnh đạo cho đến người làm du lịch và người dân. Văn hóa không phải là “phần trang trí” mà phải là trung tâm của phát triển.
Chúng ta cần những quy hoạch phát triển du lịch có tầm nhìn văn hóa. Mỗi sản phẩm du lịch được xây dựng phải bắt nguồn từ di sản, từ bản sắc. Chẳng hạn, một tour du lịch về vùng trà không chỉ là thăm đồi chè, mà phải là trải nghiệm toàn diện: Từ hái chè, chế biến chè, đến uống trà, nghe kể chuyện trà, nghe hát Then bên ấm trà nóng.
Thái Nguyên cần xác lập những giá trị cốt lõi của mình – trà, then, dân ca các tộc người, kiến trúc bản địa, và không gian văn hóa cộng đồng – để từ đó xây dựng chiến lược phát triển phù hợp. Văn hóa nếu được đặt ở vị trí trung tâm sẽ kéo theo du lịch, kinh tế, giáo dục, truyền thông cùng phát triển, một cách bền vững và đầy tự hào.
Chúng ta không chạy theo những mô hình du lịch rập khuôn, không biến văn hóa thành thứ trình diễn vô hồn. Hãy đi từ cái thật: Một người biết hát, một người biết pha trà, một người biết làm bánh chưng đen... họ là kho báu sống.
Chúng ta cần những chính sách hỗ trợ nghệ nhân, hỗ trợ cộng đồng giữ nghề, cần những không gian sống để văn hóa diễn ra một cách tự nhiên, không bị bóp méo. Và cần những người làm du lịch hiểu rằng: Cái quý nhất không nằm ở độ cao của khách sạn, mà nằm ở độ sâu của trải nghiệm.
Phóng viên: Hiện nay, Thái Nguyên có nhiều tiềm năng về du lịch di sản văn hóa, đặc biệt là văn hóa trà và các lễ hội truyền thống. Ông đánh giá thế nào về thực trạng và giải pháp phát triển?
NSND Vương Duy Biên:
Tỉnh Thái Nguyên mới là một vùng đất giàu truyền thống với nhiều giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể đặc sắc, đặc biệt là văn hóa trà – một thương hiệu nổi tiếng của Việt Nam. Hiện tại, tỉnh đã giữ gìn được nhiều yếu tố văn hóa gốc như các mái nhà cổ ở phố cổ Yến Lạc (xã Na Rì), nhà sàn của người Tày cùng hệ thống các lễ hội truyền thống đặc trưng như Lễ hội Lồng tồng, Lễ Kỳ yên, Lễ Cấp sắc, các lễ hội xuân...
Về di sản phi vật thể, Thái Nguyên cũng lưu giữ được những giá trị vô giá như di sản thực hành Then – được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, Hội Tung còn trong lễ hội Lồng tồng, hát Quan làng, phongslư của người Tày; hát Sli của người Nùng; Páo dung của người Dao; khèn của người Mông... Đây chính là những điểm tựa nền tảng để phát triển du lịch di sản một cách bền vững.
Để phát triển, Thái Nguyên cần giữ gìn nguyên vẹn và tôn trọng bản sắc văn hóa truyền thống của từng dân tộc, đồng thời phải kết hợp với việc đổi mới phương thức tổ chức, đưa yếu tố trải nghiệm, công nghệ và nghệ thuật hiện đại vào các lễ hội và tour du lịch. Ví dụ, Festival Trà cần được thiết kế thành một không gian văn hóa sống động, nơi các điệu Then, tiếng khèn, tiếng hát Sli không chỉ được trình diễn mà còn được tương tác, trải nghiệm một cách sinh động và gần gũi với du khách.
Festival Trà Thái Nguyên tuy đã tổ chức nhiều lần nhưng vẫn chưa tạo được dấu ấn riêng biệt, chưa phản ánh được chiều sâu văn hóa và sự độc đáo của từng vùng chè, từng cộng đồng dân tộc gắn với trà. Lễ hội cần được “thiết kế lại” như một sản phẩm nghệ thuật – một không gian văn hóa sống động, sáng tạo và lan tỏa.
Ngoài ra, cần tổ chức các sự kiện văn hóa quy mô quốc gia và quốc tế, như Festival Trà và Di sản dân gian Việt Nam, để tạo nên thương hiệu không chỉ cho trà mà còn cho văn hóa vùng trà. Đây không chỉ là “lễ hội” mà là một hoạt động sáng tạo sống, nơi văn hóa được trình diễn, được sống động hóa, được đổi mới từng ngày trên nền tảng bản sắc.
Và muốn trà Thái Nguyên thực sự khác biệt, cần đặt câu hỏi: Trà Việt Nam là gì? Bắt nguồn từ đâu? Và trà Thái Nguyên đóng vai trò gì trong dòng chảy ấy? Trả lời được những câu hỏi ấy bằng nghệ thuật, công nghệ và sự sáng tạo, chúng ta mới có thể làm nên một Festival Trà thực sự mang bản sắc, độc đáo và lan tỏa. Cần nhìn nhận văn hóa trà và các lễ hội dân tộc của Thái Nguyên không chỉ là di sản mà còn là nguồn sống, là linh hồn của vùng đất, từ đó xây dựng các sản phẩm du lịch thật sự có bản sắc riêng biệt, có chiều sâu văn hóa, đồng thời luôn mới mẻ, sáng tạo để giữ chân và thu hút du khách.
Thêm vào đó, việc số hóa các giá trị di sản, xây dựng các tour trải nghiệm văn hóa gắn liền với không gian nhà sàn vùng hồ Ba Bể, nhà cổ nơi phố cổ Yến Lạc, các lễ nghi truyền thống, kết hợp với công nghệ thực tế ảo, ứng dụng di động… sẽ giúp lan tỏa mạnh mẽ giá trị văn hóa đặc trưng của Thái Nguyên ra với du khách trong nước và quốc tế.
Tôi cũng nhấn mạnh vai trò của cộng đồng dân cư bản địa, bởi chỉ khi người dân – đặc biệt là thế hệ trẻ – hiểu rõ, tự hào và tích cực tham gia vào quá trình giữ gìn và phát huy di sản văn hóa, thì du lịch di sản mới trở thành một dòng chảy sinh động, bền vững và lan tỏa.
Cuối cùng, không thể thiếu vai trò của giáo dục và truyền thông. Khi mỗi người dân Thái Nguyên hiểu, yêu và sống cùng văn hóa trà, thì việc giữ gìn và phát triển di sản sẽ không còn là trách nhiệm, mà là một hành động sinh động, tự nhiên và đầy tự hào.
Phóng viên: Xin cám ơn ông!



