Hiệp hội tổng kết hoạt động năm 2025 và định hướng 2026 Cơ cấu tổ chức
Nam Định: Chủ động kiến tạo thêm không gian phát triển kinh tế - xã hội liên vùng
(Chinhphu.vn) - Trước yêu cầu phải phát triển kinh tế nhanh, mạnh mẽ, tỉnh Nam Định đã chủ động quy hoạch hình thành các vùng kinh tế - xã hội nhằm tạo sức mạnh liên kết để giải quyết triệt để các vấn đề mà từng địa phương đơn lẻ, theo địa giới hành chính riêng của mình không giải quyết được. Đồng thời, để các huyện, thành phố cùng nhập cuộc, chung sức thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng chung toàn tỉnh Nam Định.
Huyện Giao Thủy thu hút được Công ty TNHH Quốc tế KAM FUNG Việt Nam đầu tư nhà máy sản xuất đồ chơi trẻ em xuất khẩu tại thị trấn Quất Lâm, góp phần thúc đẩy phát triển vùng kinh tế ven biển của tỉnh.
Từ đầu nhiệm kỳ 2020-2025 đến nay, tỉnh Nam Định đã hoàn thành xây dựng và triển khai đầu tư hàng loạt các tuyến đường giao thông chiến lược không chỉ đảm bảo kết nối liên thông giữa các huyện, thành phố trong tỉnh mà còn kết nối đến các vùng kinh tế trọng điểm của khu vực, có khả năng khơi thông nguồn lực từ các thành phần kinh tế.
Cụ thể là, Nam Định đã hoàn thành, đưa vào sử dụng các dự án: Đường trục phát triển nối vùng kinh tế biển của tỉnh với đường cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình (giai đoạn I), các tỉnh lộ 487B, 488C, cụm công trình kênh nối Đáy - Ninh Cơ.
Đang tiếp tục đôn đốc đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án: Tuyến đường bộ ven biển đoạn qua tỉnh Nam Định; các tỉnh lộ 488B, 485B; giai đoạn II dự án xây dựng tuyến đường trục phát triển nối vùng kinh tế biển tỉnh với đường cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình; tuyến đường bộ mới Nam Định - Lạc Quần - Đường bộ ven biển (tỉnh lộ 484); đường trục phía nam thành phố Nam Định (đoạn từ đường Vũ Hữu Lợi đến Quốc lộ 21B); cầu lớn thứ 4 vượt sông Đào, nối nội thành Nam Định với vùng kinh tế động lực ven biển...
Tỉnh Nam Định cũng chú trọng hoàn thành lập các Quy hoạch vùng liên huyện Hải Hậu - Giao Thuỷ, vùng liên huyện Nghĩa Hưng - Ý Yên và vùng liên huyện Nam Trực - Trực Ninh đến năm 2040, tầm nhìn đến năm 2050.
Tập trung dồn lực lập Quy hoạch tỉnh Nam Định thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, trong đó bao quát đồng bộ, thống nhất các quy hoạch phát triển liên huyện, quy hoạch vùng và quy hoạch quốc gia làm căn cứ pháp lý để các huyện, thành phố và tỉnh triển khai thu hút đầu tư các dự án phát triển kinh tế liên vùng.
Toàn tỉnh Nam Định đã hình thành 5 hành lang quan trọng phát triển đa ngành, đa lĩnh vực (kinh tế - kỹ thuật - đô thị và nông thôn) bao gồm: Hành lang Quốc lộ 10 (thành phố Nam Định - Cao Bồ), Hành lang cao tốc Bắc Nam - Cao Bồ - Rạng Đông, Hành lang kinh tế ven biển (Nghĩa Hưng - Hải Hậu - Giao Thủy), Hành lang Quốc lộ 21 (thành phố Nam Định - Xuân Trường), Hành lang cao tốc Ninh Bình - Thái Bình - Quảng Ninh. Trong đó, Hành lang Quốc lộ 10 (thành phố Nam Định - Cao Bồ) đi qua địa bàn các huyện và thị trấn: huyện Vũ Thư (Thái Bình) - thành phố Nam Định - thị trấn Gôi (Vụ Bản) - Ý Yên - Ninh Bình, tổng chiều dài khoảng hơn 30km.
Đây là hành lang động lực chủ đạo của tỉnh do là tuyến huyết mạch giao thông, có vai trò kết nối Nam Định với tỉnh Thái Bình, Ninh Bình, có dân cư đông đúc, tổng vốn cơ sở vật chất lớn, đóng góp lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Cũng tại đây, tỉnh Nam Định định hướng huy động các nguồn lực, khai thác hợp lý và có hiệu quả tài nguyên đất; đẩy mạnh phát triển các vùng nông nghiệp tập trung, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; phát triển công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến; phát triển mạnh ngành dịch vụ - du lịch, các điểm du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh theo hướng đối ngoại với quốc gia và quốc tế.
Hành lang Cao tốc Bắc Nam nối dài (Hà Nội - Cao Bồ - Rạng Đông) đi qua các huyện và thị trấn từ huyện Thanh Liêm (Hà Nam) - Cao Bồ (Ý Yên) thị trấn Liễu Đề - thị trấn Quỹ Nhất - đô thị Rạng Đông, tổng chiều dài khoảng hơn 70km. Đây cũng là trục trung tâm, giúp kết nối thuận lợi phía Bắc (tỉnh Hà Nam và Thủ đô Hà Nội).
Tuyến hành lang này đi qua các khu vực có nhiều thị trấn đang phát triển và các khu điểm kinh tế lớn có vai trò quan trọng kết nối 3 cực tăng trưởng (Cao Bồ - Liễu Đề - Rạng Đông) nên được xác định là hành lang phát triển động lực chủ đạo đến 2030 và 2050.
Trên tuyến này, Nam Định dự tính sẽ tập trung nguồn lực phát triển nông nghiệp, công nghiệp, thương mại và dịch vụ; đặc biệt phát triển mạnh công nghiệp chế biến chế tạo, luyện thép, khai khoáng, dịch vụ du lịch sinh thái cảnh quan và môi trường.
Hành lang kinh tế ven biển (Nghĩa Hưng - Hải Hậu - Giao Thủy) đi qua các huyện và thị trấn từ Tiền Hải (Thái Bình) - Đại Đồng - thị trấn Quất Lâm - thị trấn Cồn - thị trấn Thịnh Long - thị trấn Rạng Đông - thị trấn Bình Minh (Ninh Bình), tổng chiều dài khoảng 60km. Hành lang này đi qua các khu vực có nhiều thị trấn đang phát triển và các khu điểm kinh tế lớn, trọng tâm của vùng này là đô thị Rạng Đông - Thịnh Long và các đô thị Quất Lâm, Đại Đồng.
"Đất học" định hướng tập trung nguồn lực phát triển nông nghiệp, công nghiệp, thương mại và dịch vụ; đặc biệt phát triển mạnh công nghiệp chế biến chế tạo, luyện thép, khai khoáng, dịch vụ du lịch sinh thái biển, nuôi trồng thủy hải sản và dịch vụ cảng và logistics như KCN Rạng Đông, Khu kinh tế biển Ninh Cơ, Khu du lịch biển Thịnh Long, Quất Lâm…; phát triển khu vực hành lang kinh tế ven biển sẽ tạo điều kiện phát triển kinh tế, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo ra quan hệ hỗ trợ, kích thích phát triển giữa các huyện trong tỉnh.
Hành lang Quốc lộ 21 (thành phố Nam Định - Xuân Trường - Giao Thủy) đi qua địa bàn các huyện và thị trấn như: Lý Nhân (Hà Nam) - thành phố Nam Định - thị trấn Cổ Lễ - thị trấn Cát Thành - thị trấn Xuân Trường - thị trấn Quất Lâm, tổng chiều dài khoảng 48km.
Đây là hành lang phát triển động lực thứ cấp trong giai đoạn đến năm 2030 và trở thành chủ đạo trong giai đoạn đến năm 2050 do có dân cư đông đúc, tổng vốn cơ sở vật chất lớn với các thị trấn là đô thị trung tâm các huyện nằm dọc theo Quốc lộ 21 với khoảng cách khá gần nhau (<10km).
Trong giai đoạn quy hoạch, cần huy động các nguồn lực, khai thác hợp lý và có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên của khu vực, kết hợp bảo vệ môi trường sinh thái và tạo nguyên liệu cho phát triển công nghiệp. Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng nhằm thu hút đầu tư vào phát triển công nghiệp, du lịch; đẩy mạnh giải quyết việc làm, từng bước nâng cao dân trí, chất lượng đời sống dân cư hoàn thành mục tiêu xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu.
Hành lang cao tốc Ninh Bình - Thái Bình - Quảng Ninh: Đi qua các huyện và thị trấn như: Kiến Xương (Thái Bình) - thị trấn Cổ Lễ - thị trấn Liễu Đề - Kim Sơn (Ninh Bình) tổng chiều dài khoảng 50km, là trục trung tâm, giúp kết nối thuận lợi với các tỉnh, thành phố trong khu vực duyên hải Thái Bình, Ninh Bình, Hải Phòng, Quảng Ninh.
Hành lang này đi qua các thị trấn đang phát triển của tỉnh như thị trấn Cổ Lễ, thị trấn Liễu Đề, cũng là hành lang có vị trí quan trọng, có ảnh hưởng và đóng góp lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, nên được xác định là hành lang phát triển động lực thứ cấp ở giai đoạn đến năm 2030 và chủ đạo đến năm 2050. Đây là hành lang có vị trí quan trọng, khu vực có quỹ đất rộng rãi, có ảnh hưởng và đóng góp lớn về kinh tế, du lịch, dịch vụ và sản xuất công nghiệp của tỉnh.
Tại đây tỉnh định hướng huy động các nguồn lực, khai thác hợp lý và có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên của khu vực, kết hợp bảo vệ môi trường sinh thái và tạo nguyên liệu cho phát triển công nghiệp; đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng nhằm thu hút đầu tư vào phát triển công nghiệp, du lịch; đẩy mạnh giải quyết việc làm, từng bước nâng cao dân trí, chất lượng đời sống dân cư hoàn thành mục tiêu xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu.
Để bảo đảm sự thống nhất giữa các huyện, thành phố trên phạm vi toàn tỉnh Nam Định, từ đó đồng thuận cùng thu hút, đầu tư các dự án, điều phối phát triển các lĩnh vực kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại và các chương trình thúc đẩy phát triển tổng thể kinh tế - xã hội, tránh chồng chéo, lãng phí nguồn lực, tỉnh Nam Định cũng chủ động xác định phương thức phối hợp tổ chức phát triển không gian liên vùng.
Theo đó, UBND tỉnh Nam Định tổ chức sắp xếp không gian liên huyện, bố trí các công trình, dự án, hạ tầng kỹ thuật, khu dân cư, đảm bảo kết nối các vùng huyện thông suốt, phù hợp với định hướng quy hoạch chung của tỉnh và hướng phát triển trọng tâm của vùng huyện; nghiên cứu ban hành quy chế phối hợp quản lý các dự án thực hiện trong phạm vi không gian liên huyện, đảm bảo quản lý hiệu quả giữa các huyện.
Việc chủ động kiến tạo, mở thêm không gian phát triển liên vùng sẽ tạo thêm động lực mới để các địa phương phát triển kinh tế - xã hội, góp phần giúp tỉnh Nam Định thực hiện thắng lợi mục tiêu thời kỳ quy hoạch 2021-2030, tầm nhìn đến 2050 đưa đất học Thành Nam trở thành một trong những tỉnh khá của cả nước, là cực phát triển quan trọng của vùng Nam đồng bằng sông Hồng và cả nước; kết nối thuận lợi với các trung tâm kinh tế - xã hội lớn của vùng, cả nước, các nước láng giềng và ASEAN./.
Chiều 30/01/2026, Hiệp hội Phát triển Công nghiệp Văn hoá Việt Nam đã tổ chức Hội nghị tổng kết công tác năm 2025, phương hướng, nhiệm vụ năm 2026 và kết nạp hội viên mới.
Năm 2025 đánh dấu giai đoạn quan trọng khi công nghiệp văn hoá Việt Nam có thêm những nền tảng chính sách vững chắc.
Đặc biệt, Quyết định số 2486/QĐ-TTg ngày 14.11.2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hoá Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị ban hành ngày 07.01.2026 về phát triển văn hoá Việt Nam đã mở ra “kim chỉ nam” cho định hướng hoạt động của Hiệp hội trong giai đoạn tới.
NSƯT Bùi Thục Anh đọc báo cáo tổng kết
Hiệp hội Phát triển Công nghiệp Văn hoá Việt Nam được Bộ Nội vụ chính thức thành lập theo Quyết định số 541/QĐ-BNV ngày 30.5.2025, là tổ chức xã hội - nghề nghiệp hoạt động trên phạm vi toàn quốc, tập hợp các tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực văn hoá, sáng tạo, công nghệ, giáo dục, doanh nghiệp và đầu tư.
Mục tiêu xuyên suốt là kết nối nguồn lực, xúc tiến chính sách, phát triển thị trường và hệ sinh thái công nghiệp văn hoá, góp phần xây dựng kinh tế sáng tạo trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Ngay sau khi được cho phép thành lập, Ban Vận động và các hội viên sáng lập đã tích cực chuẩn bị và tổ chức thành công Đại hội Hiệp hội Phát triển Công nghiệp Văn hoá Việt Nam nhiệm kỳ 2025 - 2030.
Đại hội đã bầu Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và thống nhất bầu NSND Vương Duy Biên, nguyên Thứ trưởng Bộ VHTTDL, làm Chủ tịch Hiệp hội với tỷ lệ 100%.
Sau Đại hội, Hiệp hội nhanh chóng kiện toàn bộ máy tổ chức, thành lập Văn phòng và các Ban chuyên môn như Kinh tế - Tài chính, Đào tạo và Phát triển nguồn nhân lực, Xuất bản, Truyền thông & Sự kiện, Công nghệ, Đối ngoại, Hội viên, Địa phương…
Đồng thời, Chi nhánh Hiệp hội tại TP. Hồ Chí Minh được thành lập và hoàn tất đầy đủ các thủ tục pháp lý, sẵn sàng triển khai hoạt động tại khu vực phía Nam.
Trong năm 2025, Hiệp hội đã chủ động triển khai nhiều hoạt động chuyên môn, tham gia các sự kiện văn hoá lớn, tổ chức hội thảo khoa học về phát triển công nghiệp văn hoá phía Nam, ký kết hợp tác với nhiều đối tác trong nước và quốc tế, từng bước tạo dấu ấn trong đời sống văn hoá - sáng tạo.
Bên cạnh những kết quả bước đầu, Hiệp hội cũng thẳng thắn nhìn nhận những khó khăn, hạn chế như bộ máy mới, thiếu kinh nghiệm hoạt động hội, chưa có nguồn tài chính hỗ trợ ban đầu.
Từ đó, bài học kinh nghiệm được rút ra là cần phát huy tính chủ động, sáng tạo của các Ban chuyên môn, đơn vị trực thuộc và hội viên; mạnh dạn thí điểm những mô hình mới, gắn trách nhiệm với hiệu quả thực tiễn.
Mục tiêu - định hướng năm 2026, Hiệp hội tập trung tiếp tục hoàn thiện, ổn định bộ máy tổ chức; mở rộng mạng lưới Ban chuyên môn, đơn vị trực thuộc, văn phòng và chi nhánh tại các địa phương đủ điều kiện.
Song song với đó là xây dựng môi trường giao lưu, kết nối, hỗ trợ hội viên; từng bước định hình thương hiệu Hiệp hội theo hướng “Thích ứng - Chuyên nghiệp - Hiện đại - Phù hợp xu thế quốc tế”, đồng thời đẩy mạnh hợp tác trong và ngoài nước nhằm phát triển công nghiệp văn hoá bền vững.
Về hoạt động trọng tâm năm 2026, Hiệp hội xác định ưu tiên nghiên cứu, tổng hợp và đề xuất các cơ chế, chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển công nghiệp văn hoá; hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho hội viên...
Cùng với đó là xây dựng các thiết chế như viện đào tạo, trung tâm nghiên cứu, trung tâm thẩm định và đấu giá nghệ thuật, tạp chí chuyên ngành, văn phòng đại diện trong và ngoài nước; phát triển mạnh mẽ hội viên ở cả trong nước và quốc tế.
Các lĩnh vực hoạt động cụ thể như đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, truyền thông - sự kiện, xuất bản, hợp tác quốc tế, ứng dụng công nghệ thông tin, hoạt động địa phương và Chi nhánh TP. Hồ Chí Minh đều được xây dựng kế hoạch chi tiết, hướng tới hình thành chuỗi giá trị sáng tạo, gắn nội dung văn hoá với thị trường, công nghệ và xuất khẩu sản phẩm văn hoá.
Chia sẻ về định hướng cho năm 2026, Chủ tịch Hiệp hội, NSND Vương Duy Biên cho biết, cốt lõi của công nghiệp văn hoá vẫn là những tác phẩm nghệ thuật hay, những chương trình, cuốn sách, bộ phim, tác phẩm mỹ thuật có giá trị.
Công nghệ chính là công cụ để lan toả các giá trị ấy vượt ra ngoài biên giới quốc gia, biến sức hấp dẫn văn hoá thành giá trị kinh tế, đóng góp thiết thực cho xã hội và ngân sách nhà nước.
“Với định hướng rõ ràng và kế hoạch hành động cụ thể, Hiệp hội Phát triển Công nghiệp Văn hoá Việt Nam kỳ vọng năm 2026 sẽ là năm bản lề, tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ, chuyên nghiệp và bền vững của công nghiệp văn hoá Việt Nam trong giai đoạn mới” - NSND Vương Duy Biên chia sẻ.
VPHH
Thành viên
| Chức vụ | Họ và tên |
| Cục trưởng | Ngô Hải Phan |
| Phó Cục trưởng | Nguyễn Duy Hoàng |
Chức năng, nhiệm vụ (theo Quyết định số 1215/QĐ-VPCP ngày 15/12/2016):
Giúp Bộ trưởng, Chủ nhiệm thực hiện chức năng kiểm soát thủ tục hành chính, cải cách thủ tục hành chính trong phạm vi cả nước; tham mưu tổng hợp, điều phối giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong chỉ đạo, điều hành về cải cách hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Cục Kiểm soát thủ tục hành chính có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản riêng, là đơn vị dự toán cấp III theo quy định của pháp luật; có tên giao dịch quốc tế bằng tiếng Anh là Administrative Procedures Control Agency, viết tắt là APCA.
Ngoài các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 3 Quyết định này, Cục Kiểm soát thủ tục hành chính thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
1. Xây dựng chương trình, kế hoạch, đề án chung về cải cách thủ tục hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính trong từng giai đoạn để trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quyết định; hướng dẫn, đôn đốc các bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch và tổ chức triển khai thực hiện.
2. Chủ trì, phối hợp các đơn vị liên quan thẩm tra và theo dõi, đôn đốc, tổng hợp việc thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
3. Chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan thẩm tra các đề án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, chương trình, kế hoạch, báo cáo và công việc thường xuyên khác về cải cách hành chính nhà nước; hệ thống quản lý chất lượng vào hoạt động của các cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống hành chính nhà nước.
4. Tổ chức, hướng dẫn, triển khai thực hiện nhiệm vụ cải cách thủ tục hành chính; kiểm tra việc chấp hành chính sách, pháp luật về kiểm soát thủ tục hành chính và cải cách thủ tục hành chính trong phạm vi cả nước; tổ chức rà soát, đánh giá thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật.
5. Phối hợp với các đơn vị liên quan thẩm tra các đề án, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thủ tục hành chính.
6. Phối hợp với Vụ Tổ chức hành chính nhà nước và Công vụ thẩm tra các đề án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật về cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước và chế độ công chức, công vụ.
7. Chủ trì, phối hợp các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức, hướng dẫn, triển khai thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính tại cơ quan hành chính nhà nước.
8. Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan tiếp nhận, xử lý các phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính (trừ các phản ánh, kiến nghị của doanh nghiệp về cơ chế, chính sách, pháp luật hoặc khó khăn, vướng mắc trong hoạt động sản xuất, kinh doanh do Vụ Đổi mới doanh nghiệp chủ trì, xử lý; các đơn, thư phản ánh, kiến nghị của tổ chức, cá nhân do Vụ I chủ trì, xử lý).
9. Chủ trì, phối hợp với Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, Trung tâm Tin học xây dựng, quản lý, vận hành về nội dung đối với Hệ thống quản lý và đánh giá về kiểm soát thủ tục hành chính; Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính; Hệ thống thông tin tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về quy định hành chính; Trang thông tin điện tử tổng hợp của Cục Kiểm soát thủ tục hành chính.
10. Chủ trì, phối hợp với Vụ Khoa giáo - Văn xã và đơn vị liên quan trình Thủ tướng Chính phủ ban hành danh mục dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 của các bộ, ngành, địa phương.
11. Chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan kiến nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nghiên cứu, đề xuất hoặc chủ động nghiên cứu, đề xuất các chủ trương, chính sách, giải pháp, sáng kiến cải cách thủ tục hành chính và quy định có liên quan; nhân rộng những mô hình mới, cách làm hay trong cải cách, kiểm soát thủ tục hành chính trình cấp có thẩm quyền quyết định.
12. Giúp việc Hội đồng Tư vấn cải cách thủ tục hành chính.
13. Chủ trì, phối hợp với Vụ Quan hệ quốc tế, Vụ Tổ chức cán bộ trong hợp tác quốc tế, huy động và sử dụng các nguồn tài trợ trong và ngoài nước để tăng cường công tác cải cách, kiểm soát thủ tục hành chính.
14. Chủ trì, phối hợp với Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan thông tin đại chúng triển khai công tác truyền thông về cải cách, kiểm soát thủ tục hành chính.
15. Tổ chức hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ, giao ban định kỳ, đột xuất về công tác cải cách, kiểm soát thủ tục hành chính đối với các bộ, ngành, địa phương để thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao.
16. Báo cáo định kỳ (hàng quý, một năm) hoặc đột xuất về tình hình, kết quả thực hiện công tác cải cách, kiểm soát thủ tục hành chính theo yêu cầu Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Chủ nhiệm.
17. Lựa chọn và ký hợp đồng với chuyên gia tư vấn trong, ngoài khu vực nhà nước để thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao sau khi được Bộ trưởng, Chủ nhiệm đồng ý.
18. Quản lý tài chính, tài sản và tổ chức thực hiện dự toán ngân sách được giao theo quy định của pháp luật và phân cấp của Văn phòng Chính phủ.
19. Cơ cấu tổ chức của Cục Kiểm soát thủ tục hành chính gồm: Phòng Kiểm soát thủ tục hành chính khối kinh tế tổng hợp; Phòng Kiểm soát thủ tục hành chính khối kinh tế ngành; Phòng Kiểm soát thủ tục hành chính khối khoa giáo văn xã; Phòng Kiểm soát thủ tục hành chính khối nội chính; Văn phòng.



