Breadcrumb

Chủ động kiến tạo thêm không gian phát triển kinh tế - xã hội liên vùng

Chủ động kiến tạo thêm không gian phát triển kinh tế - xã hội liên vùng
15-11-2023

 Nam Định: Chủ động kiến tạo thêm không gian phát triển kinh tế - xã hội liên vùng

(Chinhphu.vn) - Trước yêu cầu phải phát triển kinh tế nhanh, mạnh mẽ, tỉnh Nam Định đã chủ động quy hoạch hình thành các vùng kinh tế - xã hội nhằm tạo sức mạnh liên kết để giải quyết triệt để các vấn đề mà từng địa phương đơn lẻ, theo địa giới hành chính riêng của mình không giải quyết được. Đồng thời, để các huyện, thành phố cùng nhập cuộc, chung sức thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng chung toàn tỉnh Nam Định.

 

Nam Định: Chủ động kiến tạo thêm không gian phát triển kinh tế - xã hội liên vùng - Ảnh 1.

Huyện Giao Thủy thu hút được Công ty TNHH Quốc tế KAM FUNG Việt Nam đầu tư nhà máy sản xuất đồ chơi trẻ em xuất khẩu tại thị trấn Quất Lâm, góp phần thúc đẩy phát triển vùng kinh tế ven biển của tỉnh.

Từ đầu nhiệm kỳ 2020-2025 đến nay, tỉnh Nam Định đã hoàn thành xây dựng và triển khai đầu tư hàng loạt các tuyến đường giao thông chiến lược không chỉ đảm bảo kết nối liên thông giữa các huyện, thành phố trong tỉnh mà còn kết nối đến các vùng kinh tế trọng điểm của khu vực, có khả năng khơi thông nguồn lực từ các thành phần kinh tế. 

Cụ thể là, Nam Định đã hoàn thành, đưa vào sử dụng các dự án: Đường trục phát triển nối vùng kinh tế biển của tỉnh với đường cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình (giai đoạn I), các tỉnh lộ 487B, 488C, cụm công trình kênh nối Đáy - Ninh Cơ. 

Đang tiếp tục đôn đốc đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án: Tuyến đường bộ ven biển đoạn qua tỉnh Nam Định; các tỉnh lộ 488B, 485B; giai đoạn II dự án xây dựng tuyến đường trục phát triển nối vùng kinh tế biển tỉnh với đường cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình; tuyến đường bộ mới Nam Định - Lạc Quần - Đường bộ ven biển (tỉnh lộ 484); đường trục phía nam thành phố Nam Định (đoạn từ đường Vũ Hữu Lợi đến Quốc lộ 21B); cầu lớn thứ 4 vượt sông Đào, nối nội thành Nam Định với vùng kinh tế động lực ven biển... 

Tỉnh Nam Định cũng chú trọng hoàn thành lập các Quy hoạch vùng liên huyện Hải Hậu - Giao Thuỷ, vùng liên huyện Nghĩa Hưng - Ý Yên và vùng liên huyện Nam Trực - Trực Ninh đến năm 2040, tầm nhìn đến năm 2050. 

Tập trung dồn lực lập Quy hoạch tỉnh Nam Định thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, trong đó bao quát đồng bộ, thống nhất các quy hoạch phát triển liên huyện, quy hoạch vùng và quy hoạch quốc gia làm căn cứ pháp lý để các huyện, thành phố và tỉnh triển khai thu hút đầu tư các dự án phát triển kinh tế liên vùng.

Toàn tỉnh Nam Định đã hình thành 5 hành lang quan trọng phát triển đa ngành, đa lĩnh vực (kinh tế - kỹ thuật - đô thị và nông thôn) bao gồm: Hành lang Quốc lộ 10 (thành phố Nam Định - Cao Bồ), Hành lang cao tốc Bắc Nam - Cao Bồ - Rạng Đông, Hành lang kinh tế ven biển (Nghĩa Hưng - Hải Hậu - Giao Thủy), Hành lang Quốc lộ 21 (thành phố Nam Định - Xuân Trường), Hành lang cao tốc Ninh Bình - Thái Bình - Quảng Ninh. Trong đó, Hành lang Quốc lộ 10 (thành phố Nam Định - Cao Bồ) đi qua địa bàn các huyện và thị trấn: huyện Vũ Thư (Thái Bình) - thành phố Nam Định - thị trấn Gôi (Vụ Bản) - Ý Yên - Ninh Bình, tổng chiều dài khoảng hơn 30km. 

Đây là hành lang động lực chủ đạo của tỉnh do là tuyến huyết mạch giao thông, có vai trò kết nối Nam Định với tỉnh Thái Bình, Ninh Bình, có dân cư đông đúc, tổng vốn cơ sở vật chất lớn, đóng góp lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. 

Cũng tại đây, tỉnh Nam Định định hướng huy động các nguồn lực, khai thác hợp lý và có hiệu quả tài nguyên đất; đẩy mạnh phát triển các vùng nông nghiệp tập trung, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; phát triển công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến; phát triển mạnh ngành dịch vụ - du lịch, các điểm du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh theo hướng đối ngoại với quốc gia và quốc tế.

Hành lang Cao tốc Bắc Nam nối dài (Hà Nội  - Cao Bồ - Rạng Đông) đi qua các huyện và thị trấn từ huyện Thanh Liêm (Hà Nam) - Cao Bồ (Ý Yên) thị trấn Liễu Đề - thị trấn Quỹ Nhất - đô thị Rạng Đông, tổng chiều dài khoảng hơn 70km. Đây cũng là trục trung tâm, giúp kết nối thuận lợi phía Bắc (tỉnh Hà Nam và Thủ đô Hà Nội). 

Tuyến hành lang này đi qua các khu vực có nhiều thị trấn đang phát triển và các khu điểm kinh tế lớn có vai trò quan trọng kết nối 3 cực tăng trưởng (Cao Bồ - Liễu Đề - Rạng Đông) nên được xác định là hành lang phát triển động lực chủ đạo đến 2030 và 2050. 

Trên tuyến này, Nam Định dự tính sẽ tập trung nguồn lực phát triển nông nghiệp, công nghiệp, thương mại và dịch vụ; đặc biệt phát triển mạnh công nghiệp chế biến chế tạo, luyện thép, khai khoáng, dịch vụ du lịch sinh thái cảnh quan và môi trường.

Hành lang kinh tế ven biển (Nghĩa Hưng - Hải Hậu - Giao Thủy) đi qua các huyện và thị trấn từ Tiền Hải (Thái Bình) - Đại Đồng - thị trấn Quất Lâm - thị trấn Cồn - thị trấn Thịnh Long - thị trấn Rạng Đông - thị trấn Bình Minh (Ninh Bình), tổng chiều dài khoảng 60km. Hành lang này đi qua các khu vực có nhiều thị trấn đang phát triển và các khu điểm kinh tế lớn, trọng tâm của vùng này là đô thị Rạng Đông - Thịnh Long và các đô thị Quất Lâm, Đại Đồng. 

"Đất học" định hướng tập trung nguồn lực phát triển nông nghiệp, công nghiệp, thương mại và dịch vụ; đặc biệt phát triển mạnh công nghiệp chế biến chế tạo, luyện thép, khai khoáng, dịch vụ du lịch sinh thái biển, nuôi trồng thủy hải sản và dịch vụ cảng và logistics như KCN Rạng Đông, Khu kinh tế biển Ninh Cơ, Khu du lịch biển Thịnh Long, Quất Lâm…; phát triển khu vực hành lang kinh tế ven biển sẽ tạo điều kiện phát triển kinh tế, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo ra quan hệ hỗ trợ, kích thích phát triển giữa các huyện trong tỉnh.

Hành lang Quốc lộ 21 (thành phố Nam Định - Xuân Trường - Giao Thủy) đi qua địa bàn các huyện và thị trấn như: Lý Nhân (Hà Nam) - thành phố Nam Định - thị trấn Cổ Lễ - thị trấn Cát Thành -  thị trấn Xuân Trường - thị trấn Quất Lâm, tổng chiều dài khoảng 48km. 

Đây là hành lang phát triển động lực thứ cấp trong giai đoạn đến năm 2030 và trở thành chủ đạo trong giai đoạn đến năm 2050 do có dân cư đông đúc, tổng vốn cơ sở vật chất lớn với các thị trấn là đô thị trung tâm các huyện nằm dọc theo Quốc lộ 21 với khoảng cách khá gần nhau (<10km). 

Trong giai đoạn quy hoạch, cần huy động các nguồn lực, khai thác hợp lý và có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên của khu vực, kết hợp bảo vệ môi trường sinh thái và tạo nguyên liệu cho phát triển công nghiệp. Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng nhằm thu hút đầu tư vào phát triển công nghiệp, du lịch; đẩy mạnh giải quyết việc làm, từng bước nâng cao dân trí, chất lượng đời sống dân cư hoàn thành mục tiêu xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu.

Hành lang cao tốc Ninh Bình - Thái Bình - Quảng Ninh: Đi qua các huyện và thị trấn như: Kiến Xương (Thái Bình) - thị trấn Cổ Lễ - thị trấn Liễu Đề - Kim Sơn (Ninh Bình) tổng chiều dài khoảng 50km, là trục trung tâm, giúp kết nối thuận lợi với các tỉnh, thành phố trong khu vực duyên hải Thái Bình, Ninh Bình, Hải Phòng, Quảng Ninh. 

Hành lang này đi qua các thị trấn đang phát triển của tỉnh như thị trấn Cổ Lễ, thị trấn Liễu Đề, cũng là hành lang có vị trí quan trọng, có ảnh hưởng và đóng góp lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, nên được xác định là hành lang phát triển động lực thứ cấp ở giai đoạn đến năm 2030 và chủ đạo đến năm 2050. Đây là hành lang có vị trí quan trọng, khu vực có quỹ đất rộng rãi, có ảnh hưởng và đóng góp lớn về kinh tế, du lịch, dịch vụ và sản xuất công nghiệp của tỉnh. 

Tại đây tỉnh định hướng huy động các nguồn lực, khai thác hợp lý và có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên của khu vực, kết hợp bảo vệ môi trường sinh thái và tạo nguyên liệu cho phát triển công nghiệp; đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng nhằm thu hút đầu tư vào phát triển công nghiệp, du lịch; đẩy mạnh giải quyết việc làm, từng bước nâng cao dân trí, chất lượng đời sống dân cư hoàn thành mục tiêu xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu.

Để bảo đảm sự thống nhất giữa các huyện, thành phố trên phạm vi toàn tỉnh Nam Định, từ đó đồng thuận cùng thu hút, đầu tư các dự án, điều phối phát triển các lĩnh vực kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại và các chương trình thúc đẩy phát triển tổng thể kinh tế - xã hội, tránh chồng chéo, lãng phí nguồn lực, tỉnh Nam Định cũng chủ động xác định phương thức phối hợp tổ chức phát triển không gian liên vùng. 

Theo đó, UBND tỉnh Nam Định tổ chức sắp xếp không gian liên huyện, bố trí các công trình, dự án, hạ tầng kỹ thuật, khu dân cư, đảm bảo kết nối các vùng huyện thông suốt, phù hợp với định hướng quy hoạch chung của tỉnh và hướng phát triển trọng tâm của vùng huyện; nghiên cứu ban hành quy chế phối hợp quản lý các dự án thực hiện trong phạm vi không gian liên huyện, đảm bảo quản lý hiệu quả giữa các huyện.

Việc chủ động kiến tạo, mở thêm không gian phát triển liên vùng sẽ tạo thêm động lực mới để các địa phương phát triển kinh tế - xã hội, góp phần giúp tỉnh Nam Định thực hiện thắng lợi mục tiêu thời kỳ quy hoạch 2021-2030, tầm nhìn đến 2050 đưa đất học Thành Nam trở thành một trong những tỉnh khá của cả nước, là cực phát triển quan trọng của vùng Nam đồng bằng sông Hồng và cả nước; kết nối thuận lợi với các trung tâm kinh tế - xã hội lớn của vùng, cả nước, các nước láng giềng và ASEAN./.

Asset Publisher

Kiến tạo hệ sinh thái công nghiệp văn hóa việt nam: từ chính sách đến thực tiễn triển khai

Kiến tạo hệ sinh thái công nghiệp văn hóa việt nam: từ chính sách đến thực tiễn triển khai
01-08-2026

Trong bối cảnh công nghiệp văn hóa được xác định là một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế sáng tạo, việc xây dựng hệ sinh thái phát triển đồng bộ đang trở thành yêu cầu cấp thiết đối với Việt Nam. Mặc dù đã có nhiều chủ trương, chính sách quan trọng của Đảng và Nhà nước, quá trình phát triển công nghiệp văn hóa vẫn đối mặt với không ít khó khăn về thể chế, nguồn lực, thị trường và cơ chế liên kết giữa các chủ thể. Thông qua phân tích thực tiễn hoạt động của Hiệp hội Phát triển Công nghiệp Văn hóa Việt Nam, đặc biệt từ Hội nghị sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026, bài viết làm rõ vai trò của các tổ chức xã hội – nghề nghiệp trong việc kết nối nguồn lực, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và kiến tạo hệ sinh thái công nghiệp văn hóa. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số định hướng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Hiệp hội, góp phần đưa công nghiệp văn hóa trở thành ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao, đóng góp thiết thực vào sự phát triển bền vững của đất nước.

Hội nghị sơ kết công tác 6 tháng đầu năm của Hiệp hội Phát triển Công nghiệp Văn hóa Việt Nam

Kiến tạo hệ sinh thái công nghiệp văn hóa Việt Nam: Từ chính sách đến thực tiễn triển khai

Những năm gần đây, khái niệm công nghiệp văn hóa đã dần chuyển từ một lĩnh vực mang tính học thuật trở thành một nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Nếu trước đây văn hóa chủ yếu được nhìn nhận dưới góc độ bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống, thì hiện nay văn hóa còn được xác định là nguồn lực nội sinh, có khả năng tạo ra giá trị kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và gia tăng sức mạnh mềm của Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế.

Đây là bước chuyển quan trọng về tư duy phát triển. Văn hóa không còn chỉ là lĩnh vực được đầu tư từ ngân sách nhà nước mà đang từng bước trở thành một ngành kinh tế dựa trên sáng tạo, tri thức và tài sản trí tuệ. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu đó, điều kiện tiên quyết không chỉ nằm ở việc hoàn thiện chính sách mà còn ở khả năng hình thành một hệ sinh thái công nghiệp văn hóa đủ mạnh, trong đó Nhà nước, doanh nghiệp, giới sáng tạo, các cơ sở nghiên cứu, nhà đầu tư và các tổ chức xã hội – nghề nghiệp cùng tham gia vào một chuỗi liên kết thống nhất.

Thực tiễn cho thấy Việt Nam đang sở hữu nguồn tài nguyên văn hóa rất phong phú với hệ thống di sản vật thể, phi vật thể, lễ hội truyền thống, nghệ thuật dân gian, điện ảnh, mỹ thuật, âm nhạc, thiết kế, thủ công mỹ nghệ và nguồn nhân lực sáng tạo trẻ. Tuy nhiên, phần lớn các giá trị này vẫn chưa được chuyển hóa hiệu quả thành các sản phẩm văn hóa có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế. Nhiều ý tưởng sáng tạo chưa tìm được nguồn vốn đầu tư; nhiều sản phẩm văn hóa chưa xây dựng được chuỗi giá trị hoàn chỉnh từ sáng tạo, sản xuất đến thương mại hóa; sự liên kết giữa địa phương, doanh nghiệp và giới nghệ sĩ còn thiếu tính bền vững.

Điều này cho thấy điểm nghẽn của công nghiệp văn hóa Việt Nam hiện nay không phải là thiếu tiềm năng mà là thiếu cơ chế kết nối. Phát triển công nghiệp văn hóa không thể chỉ dựa vào nỗ lực của từng cá nhân hay từng lĩnh vực riêng lẻ mà cần một hệ sinh thái liên ngành, nơi các chủ thể cùng chia sẻ nguồn lực, thông tin và cơ hội phát triển.

NSND Vương Duy Biên - Chủ tịch Hiệp hội Phát triển Công nghiệp Văn hóa Việt Nam trao tặng giải thưởng tại Festival Mỹ thuật trẻ 2026

Trong bối cảnh đó, vai trò của các tổ chức xã hội – nghề nghiệp ngày càng trở nên quan trọng. Không chỉ đại diện cho quyền lợi của hội viên, các hiệp hội cần trở thành cầu nối giữa chính sách và thực tiễn, giữa cơ quan quản lý nhà nước với doanh nghiệp, giữa nhà sáng tạo với nhà đầu tư, góp phần hình thành các mạng lưới hợp tác và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Một minh chứng rõ nét cho cách tiếp cận này được thể hiện tại Hội nghị sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026 của Hiệp hội Phát triển Công nghiệp Văn hóa Việt Nam. Hội nghị không chỉ tổng kết kết quả hoạt động, xác định phương hướng nhiệm vụ mà còn tạo diễn đàn để các hội viên, doanh nghiệp, chuyên gia và lãnh đạo các đơn vị trực thuộc trực tiếp tham gia đóng góp ý kiến đối với định hướng phát triển của Hiệp hội.

Đoàn công tác của Hiệp hội Phát triển Công nghiệp Văn hóa Việt Nam Đoàn thăm và làm việc với thành phố Cần Thơ

Từ góc độ khoa học quản trị, đây là một phương thức quản trị có tính mở, lấy hội viên làm trung tâm. Những ý kiến được đưa ra tại hội nghị không chỉ phản ánh nhu cầu thực tiễn của các doanh nghiệp và nhà sáng tạo mà còn góp phần bổ sung cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng chương trình hành động trong thời gian tới. Các nội dung thảo luận tập trung vào nhiều vấn đề then chốt như phát triển điện ảnh, chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa, kết nối đầu tư, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, phát triển nguồn nhân lực sáng tạo, mở rộng hợp tác quốc tế và tăng cường liên kết giữa các địa phương.

Đáng chú ý, hội nghị cũng đã công bố quyết định thành lập các ban chuyên môn, trung tâm và đơn vị trực thuộc; bổ nhiệm lãnh đạo các đơn vị; đồng thời công nhận thêm nhiều cá nhân, doanh nghiệp và tổ chức trở thành hội viên của Hiệp hội. Xét dưới góc độ tổ chức, đây không chỉ là hoạt động kiện toàn bộ máy mà còn là quá trình mở rộng mạng lưới liên kết của hệ sinh thái công nghiệp văn hóa. Mỗi đơn vị chuyên môn mới, mỗi hội viên mới được kết nạp đều góp phần bổ sung nguồn lực tri thức, kinh nghiệm và năng lực kết nối, tạo điều kiện để Hiệp hội thực hiện tốt hơn vai trò điều phối và hỗ trợ phát triển ngành.


Hiệp hội Phát triển Công nghiệp Văn hóa Việt Nam công bố quyết định thành lập các ban chuyên môn, trung tâm và đơn vị trực thuộc

Đặc biệt, những định hướng được các đơn vị chuyên môn đề xuất tại hội nghị đã cho thấy tư duy phát triển công nghiệp văn hóa đang có sự thay đổi đáng kể. Tiêu biểu là định hướng xây dựng Ngân hàng kịch bản số nhằm kết nối tác giả với nhà sản xuất và nhà đầu tư; phát triển mô hình phim trường gắn với du lịch văn hóa tại Tuyên Quang, hướng tới khai thác đồng thời giá trị điện ảnh, di sản và du lịch; thúc đẩy ngoại giao văn hóa thông qua điện ảnh với các chương trình hợp tác quốc tế; tăng cường huy động nguồn lực xã hội và kết nối các quỹ đầu tư cho các dự án sáng tạo. Những sáng kiến này cho thấy công nghiệp văn hóa đang được tiếp cận không chỉ như một hoạt động nghệ thuật mà như một hệ sinh thái kinh tế, nơi sản phẩm văn hóa có thể tạo ra giá trị lan tỏa cho nhiều ngành, nhiều lĩnh vực.

Từ thực tiễn hoạt động của Hiệp hội có thể rút ra một số bài học quan trọng.

Thứ nhất, phát triển công nghiệp văn hóa cần được đặt trên nền tảng liên kết đa ngành và đa chủ thể, thay vì phát triển đơn lẻ từng lĩnh vực.

Thứ hai, các tổ chức xã hội – nghề nghiệp cần phát huy vai trò điều phối, kết nối và phản biện chính sách, góp phần đưa chủ trương của Đảng và Nhà nước đi vào thực tiễn.

Thứ ba, việc phát triển công nghiệp văn hóa phải gắn với chuyển đổi số, bảo hộ tài sản trí tuệ, huy động nguồn lực xã hội và mở rộng hợp tác quốc tế nhằm tạo lập thị trường cho các sản phẩm sáng tạo.

Có thể khẳng định rằng, trong giai đoạn hiện nay, nhiệm vụ của Hiệp hội Phát triển Công nghiệp Văn hóa Việt Nam không chỉ dừng ở việc tập hợp hội viên mà cần hướng tới trở thành thiết chế trung gian của hệ sinh thái công nghiệp văn hóa, kết nối các nguồn lực sáng tạo, đầu tư, nghiên cứu và thị trường. Chỉ khi các chủ thể cùng tham gia trong một hệ sinh thái mở, các giá trị văn hóa mới có thể được chuyển hóa thành sản phẩm có giá trị kinh tế, góp phần xây dựng nền công nghiệp văn hóa hiện đại, giàu bản sắc và có sức cạnh tranh quốc tế.

Nhìn rộng hơn, phát triển công nghiệp văn hóa không chỉ nhằm tạo ra tăng trưởng kinh tế mà còn là quá trình khẳng định bản sắc dân tộc, nâng cao sức mạnh mềm của quốc gia và lan tỏa hình ảnh Việt Nam ra thế giới. Vì vậy, việc kiến tạo một hệ sinh thái công nghiệp văn hóa đồng bộ, trong đó Hiệp hội giữ vai trò kết nối và dẫn dắt, sẽ là một trong những giải pháp quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu đưa công nghiệp văn hóa trở thành ngành kinh tế quan trọng theo định hướng của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.

Ban Truyền thông - Hiệp hội Phát triển Công nghiệp Văn hóa Việt Nam

Asset Publisher

Văn bản mới
01/11/2023

Cổng thông tin điện tử chính phủ

Hệ thống tin báo cáo

Cổng dịch vụ công Quốc Gia

Hệ thống thống kê