Kết nối, phát huy di sản văn hoá gắn với phát triển công nghiệp văn hoá trong kỷ nguyên mới
Nam Định: Chủ động kiến tạo thêm không gian phát triển kinh tế - xã hội liên vùng
(Chinhphu.vn) - Trước yêu cầu phải phát triển kinh tế nhanh, mạnh mẽ, tỉnh Nam Định đã chủ động quy hoạch hình thành các vùng kinh tế - xã hội nhằm tạo sức mạnh liên kết để giải quyết triệt để các vấn đề mà từng địa phương đơn lẻ, theo địa giới hành chính riêng của mình không giải quyết được. Đồng thời, để các huyện, thành phố cùng nhập cuộc, chung sức thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng chung toàn tỉnh Nam Định.
Huyện Giao Thủy thu hút được Công ty TNHH Quốc tế KAM FUNG Việt Nam đầu tư nhà máy sản xuất đồ chơi trẻ em xuất khẩu tại thị trấn Quất Lâm, góp phần thúc đẩy phát triển vùng kinh tế ven biển của tỉnh.
Từ đầu nhiệm kỳ 2020-2025 đến nay, tỉnh Nam Định đã hoàn thành xây dựng và triển khai đầu tư hàng loạt các tuyến đường giao thông chiến lược không chỉ đảm bảo kết nối liên thông giữa các huyện, thành phố trong tỉnh mà còn kết nối đến các vùng kinh tế trọng điểm của khu vực, có khả năng khơi thông nguồn lực từ các thành phần kinh tế.
Cụ thể là, Nam Định đã hoàn thành, đưa vào sử dụng các dự án: Đường trục phát triển nối vùng kinh tế biển của tỉnh với đường cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình (giai đoạn I), các tỉnh lộ 487B, 488C, cụm công trình kênh nối Đáy - Ninh Cơ.
Đang tiếp tục đôn đốc đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án: Tuyến đường bộ ven biển đoạn qua tỉnh Nam Định; các tỉnh lộ 488B, 485B; giai đoạn II dự án xây dựng tuyến đường trục phát triển nối vùng kinh tế biển tỉnh với đường cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình; tuyến đường bộ mới Nam Định - Lạc Quần - Đường bộ ven biển (tỉnh lộ 484); đường trục phía nam thành phố Nam Định (đoạn từ đường Vũ Hữu Lợi đến Quốc lộ 21B); cầu lớn thứ 4 vượt sông Đào, nối nội thành Nam Định với vùng kinh tế động lực ven biển...
Tỉnh Nam Định cũng chú trọng hoàn thành lập các Quy hoạch vùng liên huyện Hải Hậu - Giao Thuỷ, vùng liên huyện Nghĩa Hưng - Ý Yên và vùng liên huyện Nam Trực - Trực Ninh đến năm 2040, tầm nhìn đến năm 2050.
Tập trung dồn lực lập Quy hoạch tỉnh Nam Định thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, trong đó bao quát đồng bộ, thống nhất các quy hoạch phát triển liên huyện, quy hoạch vùng và quy hoạch quốc gia làm căn cứ pháp lý để các huyện, thành phố và tỉnh triển khai thu hút đầu tư các dự án phát triển kinh tế liên vùng.
Toàn tỉnh Nam Định đã hình thành 5 hành lang quan trọng phát triển đa ngành, đa lĩnh vực (kinh tế - kỹ thuật - đô thị và nông thôn) bao gồm: Hành lang Quốc lộ 10 (thành phố Nam Định - Cao Bồ), Hành lang cao tốc Bắc Nam - Cao Bồ - Rạng Đông, Hành lang kinh tế ven biển (Nghĩa Hưng - Hải Hậu - Giao Thủy), Hành lang Quốc lộ 21 (thành phố Nam Định - Xuân Trường), Hành lang cao tốc Ninh Bình - Thái Bình - Quảng Ninh. Trong đó, Hành lang Quốc lộ 10 (thành phố Nam Định - Cao Bồ) đi qua địa bàn các huyện và thị trấn: huyện Vũ Thư (Thái Bình) - thành phố Nam Định - thị trấn Gôi (Vụ Bản) - Ý Yên - Ninh Bình, tổng chiều dài khoảng hơn 30km.
Đây là hành lang động lực chủ đạo của tỉnh do là tuyến huyết mạch giao thông, có vai trò kết nối Nam Định với tỉnh Thái Bình, Ninh Bình, có dân cư đông đúc, tổng vốn cơ sở vật chất lớn, đóng góp lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Cũng tại đây, tỉnh Nam Định định hướng huy động các nguồn lực, khai thác hợp lý và có hiệu quả tài nguyên đất; đẩy mạnh phát triển các vùng nông nghiệp tập trung, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; phát triển công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến; phát triển mạnh ngành dịch vụ - du lịch, các điểm du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh theo hướng đối ngoại với quốc gia và quốc tế.
Hành lang Cao tốc Bắc Nam nối dài (Hà Nội - Cao Bồ - Rạng Đông) đi qua các huyện và thị trấn từ huyện Thanh Liêm (Hà Nam) - Cao Bồ (Ý Yên) thị trấn Liễu Đề - thị trấn Quỹ Nhất - đô thị Rạng Đông, tổng chiều dài khoảng hơn 70km. Đây cũng là trục trung tâm, giúp kết nối thuận lợi phía Bắc (tỉnh Hà Nam và Thủ đô Hà Nội).
Tuyến hành lang này đi qua các khu vực có nhiều thị trấn đang phát triển và các khu điểm kinh tế lớn có vai trò quan trọng kết nối 3 cực tăng trưởng (Cao Bồ - Liễu Đề - Rạng Đông) nên được xác định là hành lang phát triển động lực chủ đạo đến 2030 và 2050.
Trên tuyến này, Nam Định dự tính sẽ tập trung nguồn lực phát triển nông nghiệp, công nghiệp, thương mại và dịch vụ; đặc biệt phát triển mạnh công nghiệp chế biến chế tạo, luyện thép, khai khoáng, dịch vụ du lịch sinh thái cảnh quan và môi trường.
Hành lang kinh tế ven biển (Nghĩa Hưng - Hải Hậu - Giao Thủy) đi qua các huyện và thị trấn từ Tiền Hải (Thái Bình) - Đại Đồng - thị trấn Quất Lâm - thị trấn Cồn - thị trấn Thịnh Long - thị trấn Rạng Đông - thị trấn Bình Minh (Ninh Bình), tổng chiều dài khoảng 60km. Hành lang này đi qua các khu vực có nhiều thị trấn đang phát triển và các khu điểm kinh tế lớn, trọng tâm của vùng này là đô thị Rạng Đông - Thịnh Long và các đô thị Quất Lâm, Đại Đồng.
"Đất học" định hướng tập trung nguồn lực phát triển nông nghiệp, công nghiệp, thương mại và dịch vụ; đặc biệt phát triển mạnh công nghiệp chế biến chế tạo, luyện thép, khai khoáng, dịch vụ du lịch sinh thái biển, nuôi trồng thủy hải sản và dịch vụ cảng và logistics như KCN Rạng Đông, Khu kinh tế biển Ninh Cơ, Khu du lịch biển Thịnh Long, Quất Lâm…; phát triển khu vực hành lang kinh tế ven biển sẽ tạo điều kiện phát triển kinh tế, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo ra quan hệ hỗ trợ, kích thích phát triển giữa các huyện trong tỉnh.
Hành lang Quốc lộ 21 (thành phố Nam Định - Xuân Trường - Giao Thủy) đi qua địa bàn các huyện và thị trấn như: Lý Nhân (Hà Nam) - thành phố Nam Định - thị trấn Cổ Lễ - thị trấn Cát Thành - thị trấn Xuân Trường - thị trấn Quất Lâm, tổng chiều dài khoảng 48km.
Đây là hành lang phát triển động lực thứ cấp trong giai đoạn đến năm 2030 và trở thành chủ đạo trong giai đoạn đến năm 2050 do có dân cư đông đúc, tổng vốn cơ sở vật chất lớn với các thị trấn là đô thị trung tâm các huyện nằm dọc theo Quốc lộ 21 với khoảng cách khá gần nhau (<10km).
Trong giai đoạn quy hoạch, cần huy động các nguồn lực, khai thác hợp lý và có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên của khu vực, kết hợp bảo vệ môi trường sinh thái và tạo nguyên liệu cho phát triển công nghiệp. Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng nhằm thu hút đầu tư vào phát triển công nghiệp, du lịch; đẩy mạnh giải quyết việc làm, từng bước nâng cao dân trí, chất lượng đời sống dân cư hoàn thành mục tiêu xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu.
Hành lang cao tốc Ninh Bình - Thái Bình - Quảng Ninh: Đi qua các huyện và thị trấn như: Kiến Xương (Thái Bình) - thị trấn Cổ Lễ - thị trấn Liễu Đề - Kim Sơn (Ninh Bình) tổng chiều dài khoảng 50km, là trục trung tâm, giúp kết nối thuận lợi với các tỉnh, thành phố trong khu vực duyên hải Thái Bình, Ninh Bình, Hải Phòng, Quảng Ninh.
Hành lang này đi qua các thị trấn đang phát triển của tỉnh như thị trấn Cổ Lễ, thị trấn Liễu Đề, cũng là hành lang có vị trí quan trọng, có ảnh hưởng và đóng góp lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, nên được xác định là hành lang phát triển động lực thứ cấp ở giai đoạn đến năm 2030 và chủ đạo đến năm 2050. Đây là hành lang có vị trí quan trọng, khu vực có quỹ đất rộng rãi, có ảnh hưởng và đóng góp lớn về kinh tế, du lịch, dịch vụ và sản xuất công nghiệp của tỉnh.
Tại đây tỉnh định hướng huy động các nguồn lực, khai thác hợp lý và có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên của khu vực, kết hợp bảo vệ môi trường sinh thái và tạo nguyên liệu cho phát triển công nghiệp; đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng nhằm thu hút đầu tư vào phát triển công nghiệp, du lịch; đẩy mạnh giải quyết việc làm, từng bước nâng cao dân trí, chất lượng đời sống dân cư hoàn thành mục tiêu xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu.
Để bảo đảm sự thống nhất giữa các huyện, thành phố trên phạm vi toàn tỉnh Nam Định, từ đó đồng thuận cùng thu hút, đầu tư các dự án, điều phối phát triển các lĩnh vực kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại và các chương trình thúc đẩy phát triển tổng thể kinh tế - xã hội, tránh chồng chéo, lãng phí nguồn lực, tỉnh Nam Định cũng chủ động xác định phương thức phối hợp tổ chức phát triển không gian liên vùng.
Theo đó, UBND tỉnh Nam Định tổ chức sắp xếp không gian liên huyện, bố trí các công trình, dự án, hạ tầng kỹ thuật, khu dân cư, đảm bảo kết nối các vùng huyện thông suốt, phù hợp với định hướng quy hoạch chung của tỉnh và hướng phát triển trọng tâm của vùng huyện; nghiên cứu ban hành quy chế phối hợp quản lý các dự án thực hiện trong phạm vi không gian liên huyện, đảm bảo quản lý hiệu quả giữa các huyện.
Việc chủ động kiến tạo, mở thêm không gian phát triển liên vùng sẽ tạo thêm động lực mới để các địa phương phát triển kinh tế - xã hội, góp phần giúp tỉnh Nam Định thực hiện thắng lợi mục tiêu thời kỳ quy hoạch 2021-2030, tầm nhìn đến 2050 đưa đất học Thành Nam trở thành một trong những tỉnh khá của cả nước, là cực phát triển quan trọng của vùng Nam đồng bằng sông Hồng và cả nước; kết nối thuận lợi với các trung tâm kinh tế - xã hội lớn của vùng, cả nước, các nước láng giềng và ASEAN./.
Chiều 18.4, Hiệp hội tổ chức Hội thảo “Kết nối, phát huy di sản văn hoá gắn với phát triển công nghiệp văn hoá trong kỷ nguyên mới”, thu hút sự tham gia của đông đảo chuyên gia, nhà quản lý, nghệ sĩ và cộng đồng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực văn hoá sáng tạo.
Hội thảo có sự tham dự của ông Thang Văn Phúc, nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ; ông Phạm Quang Vinh, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao; ông Lê Quang Vĩnh, nguyên Phó Chánh Văn phòng Trung ương Đảng; ông Hà Văn Siêu, Phó Cục trưởng Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam và PGS TS nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam...
Hội thảo thu hút đông đảo các chuyên gia, hội viên Hiệp hội Phát triển Công nghiệp văn hoá Việt Nam.
Phát biểu tại hội thảo, NSND Vương Duy Biên, nguyên Thứ trưởng Bộ VHTT&DL, Chủ tịch Hiệp hội Phát triển Công nghiệp văn hoá Việt Nam nhấn mạnh, trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, vai trò của di sản đang thay đổi. Di sản văn hoá không chỉ cần được bảo tồn mà còn phải được phát huy theo hướng sáng tạo, hiện đại, gắn với phát triển công nghiệp văn hoá.
NSND Vương Duy Biên cho rằng, trong một thời gian dài, văn hóa thường bị nhìn nhận là lĩnh vực tiêu tốn ngân sách, dẫn đến việc các mục tiêu đầu tư chưa đạt kỳ vọng. Tuy nhiên, với tinh thần đổi mới, mục tiêu nâng tỷ lệ chi cho văn hóa lên khoảng 2% theo Nghị quyết 80-NQ/TW được kỳ vọng sẽ tạo bước chuyển đáng kể, nếu được triển khai quyết liệt từ Trung ương đến địa phương, diện mạo văn hóa nói chung và công nghiệp văn hóa nói riêng sẽ có nhiều thay đổi tích cực.
Do đó, hội thảo là diễn đàn để các nhà quản lý, chuyên gia, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp cùng trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, đồng thời đề xuất các giải pháp tháo gỡ khó khăn trong quá trình bảo tồn và khai thác di sản. Mục tiêu xa hơn là tìm kiếm những mô hình sáng tạo, hiệu quả, góp phần đưa di sản trở thành nguồn lực cho phát triển.
Theo ông Lê Quốc Vinh, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư Le, Chủ tịch Câu lạc bộ Doanh nhân Sáng tạo, Việt Nam không thiếu di sản, nhưng lại chưa có hệ sinh thái đủ mạnh để chuyển hóa nguồn tài nguyên này thành công nghiệp. Chúng ta còn thiếu một chuỗi giá trị hoàn chỉnh, khi mạnh ở khâu sáng tạo ban đầu, nhưng yếu ở thương hiệu, phân phối và xuất khẩu. Chúng ta thiếu nguồn nhân lực có khả năng kết nối giữa văn hoá, thị trường và công nghệ; thiếu hạ tầng sáng tạo, không gian sáng tạo và cơ chế bảo vệ sở hữu trí tuệ.
Từ thực tiễn quốc tế, ông Vinh dẫn chứng thành công của “Shōgun”, một tác phẩm khai thác lịch sử Nhật Bản đã tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ: “Khi di sản được chuyển hóa thành vốn nội dung và đi vào chuỗi giá trị, nó không những tạo doanh thu mà còn mở rộng ảnh hưởng kinh tế và văn hóa ở quy mô toàn cầu. Quá trình này cần đi qua các bước từ tái tạo thẩm mỹ, thiết kế trải nghiệm đến công nghiệp hóa nội dung, trong đó yếu tố quyết định là khả năng kết nối với thị trường.
Theo ông Lê Quốc Vinh, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Truyền thông Lê, di sản nên được tiếp cận như một dạng “nguồn vốn nội dung”.
Bổ sung góc nhìn từ nghệ thuật biểu diễn, Nhà biên kịch Lê Quý Hiền khẳng định sân khấu truyền thống (Chèo, Tuồng, Cải lương) chính là sản phẩm độc bản, lưu giữ "mã gen" văn hóa dân tộc. Điển hình như nghệ thuật múa rối nước, đây là thỏi nam châm hút khách quốc tế tại Việt Nam, đồng thời là lời vẫy gọi du khách đầy hiệu quả thông qua hàng ngàn đêm diễn ở nước ngoài.
Đặc trưng lớn nhất của sân khấu là sự cộng hưởng cảm xúc đám đông và tính liên tục trong thưởng thức. Ông đưa ra phép so sánh: "Nếu so với tác phẩm văn học, có thể nói số khán giả trong khán phòng là số lượng ấn phẩm xuất bản và mỗi đêm diễn là một lần tái bản có 'sửa chữa và bổ sung'".
Phó Cục trưởng Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam Hà Văn Siêu khẳng định, di sản văn hóa là nguồn lực vô tận cho phát triển du lịch văn hóa và tạo sức hút đối với du khách, việc kết nối và phát huy di sản cần được thực hiện theo hướng đa chiều, trong đó du lịch văn hóa không chỉ mang đến những câu chuyện, cảm xúc mà còn tạo ra sự liên kết giữa các di sản với nhau. Mỗi lần du khách quay trở lại, sự kết nối ấy lại được làm mới, qua đó khơi gợi cảm hứng cho những sản phẩm, dịch vụ du lịch sáng tạo.
Ông Hà Văn Siêu đề xuất, cần thúc đẩy sự kết nối giữa cái cũ và cái mới, giữa truyền thống và hiện đại, để di sản được “kể” bằng ngôn ngữ đương đại, gần gũi hơn với công chúng. Việc phát huy giá trị di sản không chỉ dừng lại ở bảo tồn mà phải hướng tới chuyển hóa thành giá trị kinh tế; trong đó, vai trò của nghệ sĩ sáng tạo là đặc biệt quan trọng, giúp “đánh thức” di sản, làm cho di sản sống lại trong đời sống hôm nay. Theo ông Hà Văn Siêu, du lịch chính là kênh hiệu quả để đưa di sản đến gần hơn với xã hội; thông qua du lịch, di sản được biết đến, được quan tâm và thực sự “sống” trong cộng đồng…
Nghệ sĩ Nhân dân Vương Duy Biên cho biết, thông qua các tham luận và ý kiến trao đổi tại hội thảo, Ban tổ chức đã lắng nghe được nhiều góc nhìn khác nhau về phát huy di sản. Theo đó, mỗi loại hình di sản, từ vật thể đến phi vật thể, đều cần những cách thức phát huy riêng; thậm chí, mỗi địa phương, mỗi không gian sáng tạo hay mỗi nghệ sĩ cũng có thể tìm ra những con đường khác nhau để khai thác giá trị di sản. Chính sự đa dạng này sẽ góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, đồng thời mở ra những hướng đi mới để biến di sản thành nguồn lực phát triển bền vững.
VPHH



