Kết nối, phát huy di sản văn hoá gắn với phát triển công nghiệp văn hoá trong kỷ nguyên mới
Chiều ngày 14/11, Thủ tướng Phạm Minh Chính, Trưởng Ban Chỉ đạo Cải cách hành chính (CCHC) của Chính phủ chủ trì phiên họp thứ sáu của Ban Chỉ đạo.
Phiên họp tập trung đánh giá kết quả thực hiện công tác CCHC của 10 tháng năm 2023 (đánh giá, làm rõ những kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân, bài học kinh nghiệm), thảo luận phương hướng, nhiệm vụ CCHC những tháng cuối năm và những giải pháp khắc phục tồn tại, hạn chế trong triển khai các nhiệm vụ CCHC.
Cắt giảm, đơn giản hóa gần 2.500 quy định kinh doanh
Các báo cáo, ý kiến tại phiên họp thống nhất đánh giá, thời gian qua, nhờ sự quan tâm, chỉ đạo sát sao, quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, cùng sự cố gắng, nỗ lực và quyết tâm cao của các cấp, ngành, địa phương, của các thành viên Ban Chỉ đạo, công tác CCHC đã có những chuyển biến tích cực, đạt được kết quả khá toàn diện trên cả 6 nội dung: 1- Cải cách thể chế; 2- Cải cách thủ tục hành chính (TTHC); 3- Cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước; 4- Cải cách chế độ công vụ; 5- Cải cách tài chính công; 6- Xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số.
Công tác chỉ đạo điều hành đã tập trung vào những vấn đề trọng tâm, trọng điểm, có nhiều chuyển biến tích cực. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nghị quyết, chỉ thị, công điện đôn đốc đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, cải cách tổ chức bộ máy hành chính, cải cách TTHC, tăng cường kỷ luật, kỷ cương; thành lập 5 tổ công tác, 26 đoàn công tác của Chính phủ đi kiểm tra, đôn đốc giải ngân vốn đầu tư công, giải quyết các đề xuất, kiến nghị của địa phương.
Vai trò người đứng đầu từng bước được phát huy, 63/63 địa phương đã kiện toàn Ban Chỉ đạo CCHC do Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố đứng đầu.
Công tác cải cách thể chế, xây dựng pháp luật được đặc biệt quan tâm, có nhiều đổi mới; nhiều vướng mắc về sản xuất kinh doanh, tài khóa, tiền tệ, bất động sản, trái phiếu doanh nghiệp, tiếp cận tín dụng, đất đai, các mỏ vật liệu xây dựng thông thường cho các công trình hạ tầng chiến lược… được tháo gỡ. Từ đầu năm đến nay, Chính phủ đã tổ chức 8 phiên họp chuyên đề về xây dựng pháp luật, ban hành 79 nghị định; Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 27 quyết định quy phạm…
Cải cách TTHC, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh được đẩy mạnh. Từ 2021 đến nay, đã cắt giảm, đơn giản hóa gần 2.500 quy định kinh doanh. Các bộ đã cắt giảm, đơn giản hóa 437 TTHC liên quan đến giấy tờ công dân; 21/22 bộ và 61/63 địa phương đã công bố danh mục TTHC nội bộ... Chính phủ đã kịp thời báo cáo, trình Quốc hội chính sách liên quan vấn đề liên quan thuế tối thiểu toàn cầu.
Cải cách tổ chức bộ máy được triển khai quyết liệt, có nhiều chuyển biến tích cực. Đa số các bộ đã hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức bên trong; 63/63 địa phương cơ bản hoàn thành rà soát, sắp xếp tổ chức bên trong các sở, ngành; bộ máy tổ chức đã được tinh gọn đáng kể. Quy định về thành lập, tổ chức và hoạt động của tổ chức phối hợp liên ngành được sửa đổi, bổ sung phù hợp với thực tiễn. Chính phủ đã trình Quốc hội thông qua cơ chế đặc thù mới phát triển TPHCM; đồng thời Quốc hội đang xem xét dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi)…
Một số thể chế, chính sách quan trọng về công vụ, công chức được ban hành, như Nghị định 73/2023 về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; Chiến lược quốc gia về thu hút, trọng dụng nhân tài; đã bãi bỏ 10 thông tư về tuyển dụng, nâng ngạch công chức, thăng hạng viên chức…
Chuyển đổi số quốc gia, xây dựng Chính phủ số được triển khai quyết liệt, thực chất, nhất là việc ban hành văn bản triển khai thi hành Luật Giao dịch điện tử; tăng cường chất lượng dịch vụ công (DVC), triển khai Đề án 06.
Đơn cử, tỉ lệ hồ sơ trực tuyến của các bộ, ngành đạt khoảng 80,7% (tăng 1,5 lần so với năm 2022), của địa phương khoảng 63,5% (tăng 1,8 lần so với năm 2022) trên tổng số hồ sơ tiếp nhận, giải quyết TTHC. Đã tích hợp, cung cấp 35/53 DVC thiết yếu; 63/63 địa phương đã hoàn thành kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa Cơ sở dữ liệu (CSDL) quốc gia về dân cư với Hệ thống thông tin giải quyết TTHC; cấp trên 84,7 triệu thẻ căn cước công dân gắn chip; kích hoạt trên 45 triệu tài khoản VneID; chuẩn hoá, xử lý hơn 17 triệu SIM thuê bao; xác thực hơn 91,2 triệu thông tin nhân khẩu trong CSDL Bảo hiểm xã hội; làm sạch 42 triệu dữ liệu tài khoản ngân hàng...
Chiều 18.4, Hiệp hội tổ chức Hội thảo “Kết nối, phát huy di sản văn hoá gắn với phát triển công nghiệp văn hoá trong kỷ nguyên mới”, thu hút sự tham gia của đông đảo chuyên gia, nhà quản lý, nghệ sĩ và cộng đồng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực văn hoá sáng tạo.
Hội thảo có sự tham dự của ông Thang Văn Phúc, nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ; ông Phạm Quang Vinh, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao; ông Lê Quang Vĩnh, nguyên Phó Chánh Văn phòng Trung ương Đảng; ông Hà Văn Siêu, Phó Cục trưởng Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam và PGS TS nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam...
Hội thảo thu hút đông đảo các chuyên gia, hội viên Hiệp hội Phát triển Công nghiệp văn hoá Việt Nam.
Phát biểu tại hội thảo, NSND Vương Duy Biên, nguyên Thứ trưởng Bộ VHTT&DL, Chủ tịch Hiệp hội Phát triển Công nghiệp văn hoá Việt Nam nhấn mạnh, trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, vai trò của di sản đang thay đổi. Di sản văn hoá không chỉ cần được bảo tồn mà còn phải được phát huy theo hướng sáng tạo, hiện đại, gắn với phát triển công nghiệp văn hoá.
NSND Vương Duy Biên cho rằng, trong một thời gian dài, văn hóa thường bị nhìn nhận là lĩnh vực tiêu tốn ngân sách, dẫn đến việc các mục tiêu đầu tư chưa đạt kỳ vọng. Tuy nhiên, với tinh thần đổi mới, mục tiêu nâng tỷ lệ chi cho văn hóa lên khoảng 2% theo Nghị quyết 80-NQ/TW được kỳ vọng sẽ tạo bước chuyển đáng kể, nếu được triển khai quyết liệt từ Trung ương đến địa phương, diện mạo văn hóa nói chung và công nghiệp văn hóa nói riêng sẽ có nhiều thay đổi tích cực.
Do đó, hội thảo là diễn đàn để các nhà quản lý, chuyên gia, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp cùng trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, đồng thời đề xuất các giải pháp tháo gỡ khó khăn trong quá trình bảo tồn và khai thác di sản. Mục tiêu xa hơn là tìm kiếm những mô hình sáng tạo, hiệu quả, góp phần đưa di sản trở thành nguồn lực cho phát triển.
Theo ông Lê Quốc Vinh, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư Le, Chủ tịch Câu lạc bộ Doanh nhân Sáng tạo, Việt Nam không thiếu di sản, nhưng lại chưa có hệ sinh thái đủ mạnh để chuyển hóa nguồn tài nguyên này thành công nghiệp. Chúng ta còn thiếu một chuỗi giá trị hoàn chỉnh, khi mạnh ở khâu sáng tạo ban đầu, nhưng yếu ở thương hiệu, phân phối và xuất khẩu. Chúng ta thiếu nguồn nhân lực có khả năng kết nối giữa văn hoá, thị trường và công nghệ; thiếu hạ tầng sáng tạo, không gian sáng tạo và cơ chế bảo vệ sở hữu trí tuệ.
Từ thực tiễn quốc tế, ông Vinh dẫn chứng thành công của “Shōgun”, một tác phẩm khai thác lịch sử Nhật Bản đã tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ: “Khi di sản được chuyển hóa thành vốn nội dung và đi vào chuỗi giá trị, nó không những tạo doanh thu mà còn mở rộng ảnh hưởng kinh tế và văn hóa ở quy mô toàn cầu. Quá trình này cần đi qua các bước từ tái tạo thẩm mỹ, thiết kế trải nghiệm đến công nghiệp hóa nội dung, trong đó yếu tố quyết định là khả năng kết nối với thị trường.
Theo ông Lê Quốc Vinh, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Truyền thông Lê, di sản nên được tiếp cận như một dạng “nguồn vốn nội dung”.
Bổ sung góc nhìn từ nghệ thuật biểu diễn, Nhà biên kịch Lê Quý Hiền khẳng định sân khấu truyền thống (Chèo, Tuồng, Cải lương) chính là sản phẩm độc bản, lưu giữ "mã gen" văn hóa dân tộc. Điển hình như nghệ thuật múa rối nước, đây là thỏi nam châm hút khách quốc tế tại Việt Nam, đồng thời là lời vẫy gọi du khách đầy hiệu quả thông qua hàng ngàn đêm diễn ở nước ngoài.
Đặc trưng lớn nhất của sân khấu là sự cộng hưởng cảm xúc đám đông và tính liên tục trong thưởng thức. Ông đưa ra phép so sánh: "Nếu so với tác phẩm văn học, có thể nói số khán giả trong khán phòng là số lượng ấn phẩm xuất bản và mỗi đêm diễn là một lần tái bản có 'sửa chữa và bổ sung'".
Phó Cục trưởng Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam Hà Văn Siêu khẳng định, di sản văn hóa là nguồn lực vô tận cho phát triển du lịch văn hóa và tạo sức hút đối với du khách, việc kết nối và phát huy di sản cần được thực hiện theo hướng đa chiều, trong đó du lịch văn hóa không chỉ mang đến những câu chuyện, cảm xúc mà còn tạo ra sự liên kết giữa các di sản với nhau. Mỗi lần du khách quay trở lại, sự kết nối ấy lại được làm mới, qua đó khơi gợi cảm hứng cho những sản phẩm, dịch vụ du lịch sáng tạo.
Ông Hà Văn Siêu đề xuất, cần thúc đẩy sự kết nối giữa cái cũ và cái mới, giữa truyền thống và hiện đại, để di sản được “kể” bằng ngôn ngữ đương đại, gần gũi hơn với công chúng. Việc phát huy giá trị di sản không chỉ dừng lại ở bảo tồn mà phải hướng tới chuyển hóa thành giá trị kinh tế; trong đó, vai trò của nghệ sĩ sáng tạo là đặc biệt quan trọng, giúp “đánh thức” di sản, làm cho di sản sống lại trong đời sống hôm nay. Theo ông Hà Văn Siêu, du lịch chính là kênh hiệu quả để đưa di sản đến gần hơn với xã hội; thông qua du lịch, di sản được biết đến, được quan tâm và thực sự “sống” trong cộng đồng…
Nghệ sĩ Nhân dân Vương Duy Biên cho biết, thông qua các tham luận và ý kiến trao đổi tại hội thảo, Ban tổ chức đã lắng nghe được nhiều góc nhìn khác nhau về phát huy di sản. Theo đó, mỗi loại hình di sản, từ vật thể đến phi vật thể, đều cần những cách thức phát huy riêng; thậm chí, mỗi địa phương, mỗi không gian sáng tạo hay mỗi nghệ sĩ cũng có thể tìm ra những con đường khác nhau để khai thác giá trị di sản. Chính sự đa dạng này sẽ góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, đồng thời mở ra những hướng đi mới để biến di sản thành nguồn lực phát triển bền vững.
VPHH


