Bộ Chính trị: Chọn ngày 24-11 là Ngày Văn hóa Việt Nam, được nghỉ lễ
Chiều ngày 14/11, Thủ tướng Phạm Minh Chính, Trưởng Ban Chỉ đạo Cải cách hành chính (CCHC) của Chính phủ chủ trì phiên họp thứ sáu của Ban Chỉ đạo.
Phiên họp tập trung đánh giá kết quả thực hiện công tác CCHC của 10 tháng năm 2023 (đánh giá, làm rõ những kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân, bài học kinh nghiệm), thảo luận phương hướng, nhiệm vụ CCHC những tháng cuối năm và những giải pháp khắc phục tồn tại, hạn chế trong triển khai các nhiệm vụ CCHC.
Cắt giảm, đơn giản hóa gần 2.500 quy định kinh doanh
Các báo cáo, ý kiến tại phiên họp thống nhất đánh giá, thời gian qua, nhờ sự quan tâm, chỉ đạo sát sao, quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, cùng sự cố gắng, nỗ lực và quyết tâm cao của các cấp, ngành, địa phương, của các thành viên Ban Chỉ đạo, công tác CCHC đã có những chuyển biến tích cực, đạt được kết quả khá toàn diện trên cả 6 nội dung: 1- Cải cách thể chế; 2- Cải cách thủ tục hành chính (TTHC); 3- Cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước; 4- Cải cách chế độ công vụ; 5- Cải cách tài chính công; 6- Xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số.
Công tác chỉ đạo điều hành đã tập trung vào những vấn đề trọng tâm, trọng điểm, có nhiều chuyển biến tích cực. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nghị quyết, chỉ thị, công điện đôn đốc đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, cải cách tổ chức bộ máy hành chính, cải cách TTHC, tăng cường kỷ luật, kỷ cương; thành lập 5 tổ công tác, 26 đoàn công tác của Chính phủ đi kiểm tra, đôn đốc giải ngân vốn đầu tư công, giải quyết các đề xuất, kiến nghị của địa phương.
Vai trò người đứng đầu từng bước được phát huy, 63/63 địa phương đã kiện toàn Ban Chỉ đạo CCHC do Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố đứng đầu.
Công tác cải cách thể chế, xây dựng pháp luật được đặc biệt quan tâm, có nhiều đổi mới; nhiều vướng mắc về sản xuất kinh doanh, tài khóa, tiền tệ, bất động sản, trái phiếu doanh nghiệp, tiếp cận tín dụng, đất đai, các mỏ vật liệu xây dựng thông thường cho các công trình hạ tầng chiến lược… được tháo gỡ. Từ đầu năm đến nay, Chính phủ đã tổ chức 8 phiên họp chuyên đề về xây dựng pháp luật, ban hành 79 nghị định; Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 27 quyết định quy phạm…
Cải cách TTHC, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh được đẩy mạnh. Từ 2021 đến nay, đã cắt giảm, đơn giản hóa gần 2.500 quy định kinh doanh. Các bộ đã cắt giảm, đơn giản hóa 437 TTHC liên quan đến giấy tờ công dân; 21/22 bộ và 61/63 địa phương đã công bố danh mục TTHC nội bộ... Chính phủ đã kịp thời báo cáo, trình Quốc hội chính sách liên quan vấn đề liên quan thuế tối thiểu toàn cầu.
Cải cách tổ chức bộ máy được triển khai quyết liệt, có nhiều chuyển biến tích cực. Đa số các bộ đã hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức bên trong; 63/63 địa phương cơ bản hoàn thành rà soát, sắp xếp tổ chức bên trong các sở, ngành; bộ máy tổ chức đã được tinh gọn đáng kể. Quy định về thành lập, tổ chức và hoạt động của tổ chức phối hợp liên ngành được sửa đổi, bổ sung phù hợp với thực tiễn. Chính phủ đã trình Quốc hội thông qua cơ chế đặc thù mới phát triển TPHCM; đồng thời Quốc hội đang xem xét dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi)…
Một số thể chế, chính sách quan trọng về công vụ, công chức được ban hành, như Nghị định 73/2023 về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; Chiến lược quốc gia về thu hút, trọng dụng nhân tài; đã bãi bỏ 10 thông tư về tuyển dụng, nâng ngạch công chức, thăng hạng viên chức…
Chuyển đổi số quốc gia, xây dựng Chính phủ số được triển khai quyết liệt, thực chất, nhất là việc ban hành văn bản triển khai thi hành Luật Giao dịch điện tử; tăng cường chất lượng dịch vụ công (DVC), triển khai Đề án 06.
Đơn cử, tỉ lệ hồ sơ trực tuyến của các bộ, ngành đạt khoảng 80,7% (tăng 1,5 lần so với năm 2022), của địa phương khoảng 63,5% (tăng 1,8 lần so với năm 2022) trên tổng số hồ sơ tiếp nhận, giải quyết TTHC. Đã tích hợp, cung cấp 35/53 DVC thiết yếu; 63/63 địa phương đã hoàn thành kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa Cơ sở dữ liệu (CSDL) quốc gia về dân cư với Hệ thống thông tin giải quyết TTHC; cấp trên 84,7 triệu thẻ căn cước công dân gắn chip; kích hoạt trên 45 triệu tài khoản VneID; chuẩn hoá, xử lý hơn 17 triệu SIM thuê bao; xác thực hơn 91,2 triệu thông tin nhân khẩu trong CSDL Bảo hiểm xã hội; làm sạch 42 triệu dữ liệu tài khoản ngân hàng...
Ngày 24/11 hằng năm được chọn là "Ngày Văn hóa Việt Nam", theo Nghị quyết số 80 của Bộ Chính trị. Ngày này, người lao động cả nước được nghỉ làm và được hưởng nguyên lương.
Nội dung này được đề cập trong Nghị quyết số 80 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, do Tổng Bí thư Tô Lâm ký ban hành.
Bộ Chính trị thống nhất chọn ngày 24/11 hằng năm là "Ngày Văn hóa Việt Nam", với chủ trương là ngày nghỉ, người lao động được hưởng nguyên lương, để Nhân dân được nâng cao khả năng thụ hưởng văn hóa, đội ngũ văn nghệ sĩ được động viên sáng tạo, toàn xã hội đề cao, thực hành lối sống văn hóa, văn minh.
Mục tiêu chung đến năm 2030, Bộ Chính trị lưu ý đẩy mạnh xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh từ gia đình, nhà trường đến xã hội và không gian số.
Cũng theo Bộ Chính trị, đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển bền vững đất nước, cho tương lai của dân tộc.
Nghị quyết đưa ra nhiều mục tiêu cụ thể. Trong đó, hoàn thiện hệ thống thiết chế văn hóa quốc gia, bảo đảm 100% chính quyền địa phương 2 cấp, lực lượng vũ trang có thiết chế văn hóa đáp ứng được nhu cầu sáng tạo, thụ hưởng văn hóa của người dân ở cơ sở và cán bộ, chiến sĩ, 90% thiết chế văn hóa cơ sở hoạt động thường xuyên, hiệu quả.
Phấn đấu hoàn thành việc số hóa 100% các di sản văn hóa đã được xếp hạng cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt vào năm 2026.
100% học sinh, học viên, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân được tiếp cận, tham gia hiệu quả, thường xuyên các hoạt động nghệ thuật, giáo dục di sản văn hóa.
Bảo đảm nguồn lực tương xứng cho phát triển văn hóa; bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hóa và tăng dần theo yêu cầu thực tiễn...
Phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP; hình thành từ 5 - 10 thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hóa, như điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hóa, thiết kế và thời trang,...
Xây dựng thành công 5 thương hiệu liên hoan nghệ thuật, lễ hội văn hóa quốc tế về điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật.
Thành lập thêm từ 1 - 3 trung tâm văn hóa Việt Nam tại nước ngoài, ưu tiên các địa bàn đối tác chiến lược toàn diện. Phấn đấu thêm 5 di sản văn hóa được UNESCO công nhận, ghi danh.
Về tầm nhìn đến năm 2045, nghị quyết đề ra xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trong đó con người là trung tâm, chủ thể, mục tiêu, động lực của phát triển; các giá trị văn hóa giữ vai trò nền tảng, chuẩn mực và được thẩm thấu trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Khẳng định vị thế văn hóa của quốc gia phát triển có thu nhập cao, định hướng xã hội chủ nghĩa.
Việt Nam là điểm đến hấp dẫn của các sự kiện văn hóa, nghệ thuật tầm cỡ khu vực và quốc tế; trở thành một trong những trung tâm công nghiệp văn hóa - sáng tạo năng động, với một số chỉ tiêu chính.
Bao gồm công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo thực sự trở thành trụ cột của phát triển bền vững, phấn đấu đóng góp 9% GDP.
Có 10 thương hiệu liên hoan nghệ thuật, lễ hội văn hóa tầm vóc quốc tế; phấn đấu thêm khoảng 8 - 10 di sản văn hóa được UNESCO công nhận, ghi danh.
Phấn đấu nằm trong Top 3 khu vực ASEAN và Top 30 thế giới về Chỉ số Sức mạnh mềm (Soft Power Index) của quốc gia và giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghiệp văn hóa.
TH


